Bỏ qua, đến nội dung chính
Về chủ đề Đạo đức

Thân trung ấm

Trích từ Nghiệp và kết quảKhoảng 16 phút đọc

Thân trung ấm

Trong Phật Giáo Đại Thừa, khái niệm Thân Trung Ấm được nêu ra để chỉ cho giai đoạn mà một người đã chết, sự sống nơi thân vật lý không còn tồn tại, nhưng tồn tại một sự sống trong thế giới vô hình. Cái Ngã nơi Thân Trung Ấm này cũng vẫn là cái ngã nơi sự sống lúc còn gắn nơi thân vật lý. Trước khi chết người này là Đậu, con ông Xoài, thì ở Thân Trung Ấm người này vẫn thấy mình là Đậu con ông Xoài. Cho đến khi duyên đã hết, phải sinh về một kiếp khác, Thân Trung Ấm tan biến, sự sống thành hình ở bào thai mới, lúc đó cái ngã cũ chấm dứt hoàn toàn. Cái giây phút mà Thân Trung Ấm tan biến luôn luôn đồng thời với cái lúc tinh trùng cha lọt vào noãn của mẹ. Abhidhamma thuộc Kinh Tạng Nguyên Thủy gọi là “khi Tử tâm tối hậu chấm dứt thì Kiết sinh thức tối sơ xuất hiện”. Cái ngã cũ đã hết nên người này không còn thấy mình là Đậu con ông Xoài nữa. Chuyện kiếp trước bị quên, người này mang một hình hài mới, tên họ mới, dòng tộc mới, số phận mới.

Do nghiệp đã tạo sẵn nên kiếp sắp tới của một người sẽ sinh vào gia đình nào là điều chắc chắn, không có gì thay đổi được nữa. Lúc tử tâm tối hậu chấm dứt cũng là lúc tinh trùng lọt vào noãn sào và một kiếp sống mới bắt đầu trong hình thức một bào thai nhỏ bé mà mắt thường không thể trông thấy.

Trong 500 triệu tinh trùng của người cha, có những tinh trùng chỉ mang nhiễm sắc thể X, nếu kết hợp với tiểu noãn sẽ cho ra một bào thai nữ; có những tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y, nếu kết hợp với tiểu noãn sẽ cho ra một bào thai nam. Nhưng do nghiệp của chính người đó sẽ mang thân nam hay nữ nên khiến cho tinh trùng loại nào sẽ lọt vào tiểu noãn.

Lúc tiểu noãn thụ tinh, các nhiễm sắc thể (chromosome) của tinh trùng và của trứng phối hợp thành 46 cái, một số lượng cần thiết để sự sống có thể xuất hiện. Con người, lúc bấy giờ mặc dù chỉ là một tế bào, nhưng định mệnh đã bao trùm lấy nó, vì những nhiễm thể của người cha và người mẹ đã định đoạt giới tính, màu tóc, màu mắt cũng như vóc dáng của hai nhi tương lai. Cũng chính nhiễm thể này khiến trẻ con sẽ được sinh ra trở thành một vĩ nhân hoặc một kẻ ngu đần.

Những nhiễm sắc thể có hình xoắn giống một dây ngọc hoặc một dây có thắt nơ và chứa hàng nghìn phân tử di truyền (genes), cấu tạo bởi Acid Desoxyribo Nucleic (ADN), một chất hóa học chứa đựng bí mật về sự sống và sự sinh trưởng của con người. Hiện nay các nhà khoa học đang tìm cách giải mã từng gène để biết được nhiệm vụ của chúng một cách chắc chắn.

Tranh mực đen trắng: cành mai với những đóa hoa nhỏ.

Những nhiễm sắc thể chứa hàng tử di truyền, có nhiệm vụ rõ rệt trong từng giai đoạn, trong việc sinh trưởng. Mỗi phân tử di truyền tự hoạt động riêng rẽ hoặc cộng tác với phân tử di truyền khác. Một số phân tử di truyền ấn định màu mắt, một số khác ấn định về màu da và một số nữa ấn định chiều dài của xương.

Con người hưởng thụ 1/2 số lượng nhiễm thể của cha và 1/2 của mẹ (tổng cộng 46). Sự kiện này là nguồn gốc của sự khác biệt giữa những cá thể trong nhân loại.

Khi những cặp nhiễm thể của tiểu noãn được phân làm hai, sự ngẫu nhiên (theo luật Nghiệp Báo bí mật chi phối) sẽ định đoạt nhiễm thể nào của mỗi cặp sẽ ở lại, và nhiễm thể nào sẽ bị loại bỏ. Do đó người phụ nữ có thể truyền lại cho con mình màu mắt, trí khôn đã thụ hưởng từ tổ tiên và cả bệnh tật. Và cũng chính sự ngẫu nhiên theo nghiệp sẽ phân chia và chọn lựa nhiễm thể của người cha. Tất cả đều diễn biến tương tự một cuộc xổ số vĩ đại vì những nhiễm thể của tiểu noãn và của tinh trùng có thể được phân chia theo tám triệu kiểu khác nhau.

Chính nghiệp của đứa bé đã sắp xếp cuộc tạo dựng nhỏ nhiệm và quan trọng này.

Đầu tiên, nghiệp của đứa bé đã quy định nó sẽ làm con của bậc cha mẹ nào để có thể nhận lấy tính di truyền về sức khỏe, trí khôn, hình dáng của dòng họ đó. Rồi nghiệp tiếp tục chi phối sự phối hợp, phân chia các gène để cho nó có những tính chất khác hẳn anh chị em của nó.

Nếu đời trước nó thường chăm sóc sức khỏe cho mọi người, hoặc dùng sức lực để làm việc thiện, thì nội việc chọn lựa các gène, nó sẽ thừa hưởng được các gène tạo thành sức khỏe tốt.

Nếu đời trước nó hay truyền đạt kiến thức, dạy học tận tâm, xây cất trường học, thì bây giờ nó được hưởng các gène tạo nên bộ óc thông minh.

Nếu có nhiều phước, nó được sinh trong gia đình giàu có, từ nhỏ đã đầy đủ tất cả.

Ở đây, luật Nghiệp Báo đã “thò tay” sắp xếp từng gène cho đứa bé.

Khi tinh trùng đã kết hợp với tiểu noãn, một tâm thức tối sơ xuất hiện. Lúc này đồng thời với cái chết thực sự ở thân cũ. Trước khi tinh trùng kết hợp với tiểu noãn, mỗi bên đã có 23 cặp nhiễm sắc thể chứa đựng các gène (các đoạn phân tử ADN) ấn định sự phát triển về sau. Các nhiễm sắc thể đã có tạo thành một vùng không gian tâm linh vô cùng nhỏ nơi giao tử (trứng hoặc tinh trùng), nhưng chưa đủ để gọi là tâm thức tối sơ. Tính chất tinh thần của tinh trùng hay tiểu noãn quá ít ỏi và đơn giản nên không đủ để định nghĩa đó là một mọi người. Chỉ khi nào tiểu noãn và tinh trùng đã kết hợp, năng lực tâm linh tại đó được nhân bội lên vì đã hình thành các gene (các đoạn phân tử ADN) để ấn định sự phát triển của bộ não, lúc đó tâm thức tối sơ của một mọi người mới thật sự hình thành.

Tranh mực đen trắng: những hòn đá và các vòng sóng trên cát.

Tâm thức này càng lúc càng phát triển phức tạp dần dần theo sự phát triển của các tế bào não. Ban đầu, phôi (trứng đã thụ tinh) dường như chỉ có một tâm thức tối sơ cao cấp hơn bản năng sinh tồn của tế bào bình thường một chút. Đến khi các tế bào não phát triển theo hai cơ cấu: thần kinh động vật và thực vật; theo hai bán cầu; theo các trung thu, lúc đó tâm thức cũng phát triển theo hai cơ cấu: ý thức và vô thức.

Qua hai tháng, não bộ đã phát triển hoàn chỉnh với 15 tỷ tế bào. Ý thức và vô thức đã được thành lập xong. Tuy nhiên, não bộ vẫn trong tình trạng hoạt động thầm lặng đơn giản, bào thai ngủ nhiều hơn thức. Thỉnh thoảng bào thai cũng thức dậy vui đùa chút ít rồi lại chìm vào giấc ngủ say sưa. Song, nơi cái não bộ trinh trắng đó, thật ra đã mang đủ các mầm mống thiện ác phức tạp do ý nghiệp đời trước tạo nên. Những tư tưởng đời trước đã quy định nhân cách, tính tình cho đời sau.

Một số người cho rằng nếu tư tưởng đời trước tạo ra tư tưởng đời sau, vậy phải chăng có một loại tâm thức nào đó không bị tiêu diệt theo cái chết, đã giữ nguyên các hạt giống tư tưởng đời trước để nhập qua bào thai mới? Và như vậy người thông minh sẽ tiếp tục thông minh, kẻ ngu dốt sẽ tiếp tục ngu dốt?

Thật ra, vấn đề không đơn giản như vậy. Có thể một người đời trước là một bác học. Nhưng ông luôn đố kỵ với kẻ có tài vì sợ họ giỏi hơn mình. Kiếp sau, ông là một người ngu dốt. Có thể một người nông dân ít học, nhưng ông biết lo lắng việc học hành của con cái, thường hay phụ giúp xây cất trường học trong làng. Kiếp sau ông là một người thông minh học giỏi.

Không có tâm thức nào rời thân cũ nhập qua thai mới để mang theo các hạt giống tư tưởng cũ. Chỉ có luật Nghiệp Báo từ trong Bản Thể quy định tất cả. Nếu đời này chúng ta có được tư tưởng tốt lành, nhân cách trác việt, chỉ bởi vì đời trước chúng ta thường xuyên tán thán một bậc thánh nào đó, hoặc hơn nữa chúng ta thường tâm nguyện sẽ đạt được sự cao cả của vị thánh đó.

Luật Nghiệp Báo sắp xếp tất cả mà không bị ngăn cách bởi không gian vì trong Bản Thể, tất cả vị trí đều chung một chỗ, nhưng không lẫn lộn với nhau.

Trong thế giới sinh vật, người ta quan sát thấy những hiện tượng biến dị không theo truyền thống. Ví dụ trong một bầy chim lông vàng chợt xuất hiện con chim lông xám, mặc dù chúng cùng sự di truyền từ cha mẹ. Những biến dị này có nhiều nguyên nhân, hoặc do môi trường, nhiệt độ, hóa chất, tâm lý.

Tranh mực đen trắng: núi non trùng điệp ẩn hiện trong sương.

Trong loài người cũng vậy, không phải hễ là anh chị em thì phải giống nhau. Sự biến dị lạ lùng đã khiến cho anh chị em vẫn có sự sai khác về tính tình, hình dáng, tài năng. Ở đây, chính nghiệp riêng đời trước đã đạo diễn nên sự sai khác này. Họ có duyên làm anh chị em với nhau những vẫn cưu mang nghiệp riêng biệt của mình từ vô lượng kiếp trước.

Rồi thêm nữa, gène không phải đã là đại biểu cho luật Nghiệp Báo. Nó cũng chỉ là một mắt xích trong chuỗi Nhân Quả mà thôi. Ví dụ một người bị dư một nhiễm sắc thể, 47 thay vì 46 như mọi người, nên mắc hội chứng Down. Người này ngu đần, yếu ớt, mặt mày bị biến dạng. Do nghiệp đời trước nên trong quá trình tạo thành trứng hoặc tinh trùng của cha mẹ, một giao tử đã dư một nhiễm sắc thể để dành sẵn cho kẻ xấu số kia. Đúng vào lúc trứng đó rụng, nó được thụ tinh và đứa bé ra đời với định mệnh khắc nghiệt. Vì là bệnh từ trong nhiễm sắc thể nên rất khó chữa. Biết đâu sau này do phước của người bệnh đến lúc tốt đẹp, y học sẽ tìm được phương pháp bỏ bớt một nhiễm sắc thể tai hại kia.

Các nhà khoa học đang lần mò vào từng gène để thay đổi số phận của con người. Những người bệnh do gène tức là do nghiệp cố định khó chuyển, biết đâu đến khi đủ phước, y học sẽ can thiệp vào gène để chuyển nghiệp cho họ.

Chỉ có một cái cố định, đó là luật Nghiệp Báo. Một nghiệp chắc chắn sẽ có một quả báo. Phần còn lại là do mỗi chúng ta tự chọn cho mình loại quả báo nào bằng cách gây nghiệp ra sao. Nếu muốn cuộc đời mình được nhiều tốt đẹp, hãy cố gắng tạo nhiều nhân lành và gạn lọc tư tưởng của mình thường xuyên.

Có một số tôn giáo không tin có luân hồi tái sinh, có một số người nghiên cứu khoa học cũng không tin có luân hồi. Nhưng cũng có một số nhà khoa học đang khách quan tìm hiểu vấn đề này một cách nghiêm túc.

Bác sĩ Mỹ lan Stevenson, tác giả cuốn “Hai mươi trường hợp về luân hồi”, sau nhiều năm nghiên cứu ông đã tin rằng “Có thể có sự sống sau khi chết đi”. Ông bắt đầu tìm cách chứng minh Thuyết luân hồi từ năm 1961 trong chuyến đi Ấn Độ lần thứ nhất. Dùng máy vi tính phân tích 1200 trường hợp được coi là đầu thai, Bác sĩ Stevenson tuyên bố: “Không có lý do để coi thuyết luân hồi là mê tín, ngược lại nó đáng được nghiên cứu một cách nghiêm túc.” Ông cho một số trường hợp những nốt ruồi, mụn cóc trên mình trẻ sơ sinh có thể là dấu vết dao đâm, đạn bắn trong tiền kiếp.

Ở Hy Lạp, các triết gia Empedocles, Pythagore và Plato đã giảng giải về đầu thai. Ngay các giáo phẩm cao cấp của nhà thờ Kitô buổi đầu cũng tin ở việc đầu thai. Mãi đến năm 553, hội đồng Constantinople dưới sự chủ tọa của giáo hoàng Vigilins mới phán rằng luân hồi là tà thuyết.

Nhiều triết gia cận đại bênh vực thuyết luân hồi, trong đó có Kant (1724-1804) và Schopenhower (1788-1860).

Tranh mực đen trắng: vầng trăng tròn trên núi xa, vài cánh chim bay.

Rồi ngay cả những người tin ở thuyết luân hồi cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Có người cho rằng ngoài việc tái sinh ở thân người hoặc thú, một người theo nghiệp của mình có thể tái sinh ở một thế giới siêu hình của các thần linh, hoặc tái sinh ở địa ngục, ma quỷ. Như vậy họ tin rằng ngoài không gian vật lý này còn có các thế giới siêu hình cũng có tính khách quan như không gian vật lý. Ở đó các sinh vật không mang thân xác vật lý mà có một hình dáng đặc biệt, khó thể trông thấy bởi đôi mắt của người trần gian.

Hầu hết các tôn giáo đều chấp nhận có các cõi giới siêu hình tồn tại khách quan ngoài ý muốn con người. Chúng ta cần phân biệt cái không gian tâm linh do Bản năng sinh tồn của sinh vật tạo nên có tính chủ quan triệt để, với các thế giới siêu hình tồn tại khách quan theo quan niệm của tôn giáo.

Nơi không gian tâm linh chủ quan, mọi thần thông, tác dụng đều xảy ra theo ý muốn và niềm tin của con người. Thậm chí một số ảo ảnh về thiên đường, địa ngục, ảo ảnh về các bóng ma cũng được tạo ra từ nơi đây. Hơn nữa, mặc dù không gian tâm linh có vẻ kỳ diệu hơn, cao cấp hơn không gian vật lý nhưng nó vẫn liên quan với không gian vật lý bởi vì nó được hình thành từ cấu trúc của tế bào sinh vật, từ cấu trúc của các ADN. Như vậy do cấu trúc cao cấp của vật chất, tế bào hình thành, AND hình thành và bản năng sinh tồn hình thành, đồng thời không gian tâm linh cũng từ nơi cấu trúc đó mà xuất hiện. Ở mỗi tế bào sống đều có một vùng không gian tâm linh nhỏ bé bao phủ. Toàn bộ tế bào của cơ thể tạo thành một vùng không gian tâm linh lớn bao quanh cơ thể. Riêng những sinh vật có não bộ, nhất là người, thì không gian tâm linh mạnh hơn và tế bào não tạo thành không gian tâm linh mạnh hơn tế bào thường.

Chúng ta có thể ví dụ không gian tâm linh với điện trường chung quanh một dây dẫn điện. Khi có dòng điện chạy qua một dây dẫn, lập tức chung quanh dây điện xuất hiện một vùng điện từ trường. Trường điện từ này vô hình nhưng có tác dụng lớn lao trong các kỹ thuật hiện đại như Radar, vô tuyến viễn thông... Người ta ứng dụng tính chất của trường điện từ trong vô số lĩnh vực nhưng thật ra bản chất thực sự của cái gọi là trường này nghĩa là gì thì vẫn còn là bí mật.

Một số nhà bác học đã dùng lại khái niệm Éther để tạo cơ sở cho một cái nền của không gian. Khái niệm này từ lâu đã bị bác bỏ, nhưng lại bắt đầu được nhắc đến.

Trường điện từ cũng do vật chất mà có. Trường không gian tâm linh của sinh vật cũng vậy, cũng từ vật chất mà có, nhưng phải là một cấu trúc hết sức đặc biệt của ADN mới đủ sức tạo thành một trường không gian tâm linh phát ra chung quanh.

Tranh mực đen trắng: chiếc thuyền nhỏ trên mặt nước lặng.

Như vậy, không gian tâm linh vẫn phải dựa trên vật chất mà có. Tinh thần và thể xác không thể tách rời. Tinh thần và thể xác có tính chất khác nhau rất xa nhưng vẫn dựa vào nhau để tồn tại. Người nào tách đôi tinh thần và thể xác sẽ phạm sai lầm. Chính vì lý do này nên khi có người hỏi Đức Phật :

“Ngã (tinh thần) và Thân (thể xác) là một hay khác?”

Đức Phật im lặng.

Theo tính toán, các nhà vật lý vũ trụ cho rằng phải cần số lượng vật chất gấp nhiều lần số lượng vật chất đang có trong vũ trụ thì mới phù hợp với vận tốc chuyển động của các thiên thể. Và các nhà khoa học kết luận rằng phải tồn tại một loại “vật chất vô hình” rất lớn trong vũ trụ. Ở đây chúng ta thấy bắt đầu có sự nối tiếp trùng hợp giữa lý thuyết khoa học và lý thuyết về các cõi giới siêu hình của tôn giáo như cõi trời, cõi địa ngục. Một ngày nào đó, khoa học mở rộng phạm trù về môi trường sống sang các thế giới vô hình và chúng ta sẽ xem thế giới vô hình cũng là một dạng tồn tại để đi đến sau cái chết của cuộc đời này.

Tuy nhiên chúng ta nên cẩn thận vì một cõi trời thật sự và một cõi trời do ảo ảnh của tâm hiện ra rất khó phân biệt. Nhiều người đã trở nên mê tín, tà kiến vì quá chú trọng vào cõi siêu hình và thường hay có ảo ảnh thiên đường trong giấc mơ.