Bỏ qua, đến nội dung chính
Về chủ đề Công đức

Đức hạnh trong hiện tại

Trích từ Nghiệp và kết quảKhoảng 9 phút đọc

Đức hạnh trong hiện tại

Giải thoát cũng đồng nghĩa với vô ngã. Vô ngã và giải thoát là một. Thế nên muốn đạt được quả báo giải thoát, chúng ta phải gieo nhân vô ngã. Thế nào là nhân vô ngã? Đó là một đời sống đạo đức xả kỷ, quên mình để sống trọn vẹn vì mọi người chung quanh.

“Tôi có mặt và lớn lên giữa lòng nhân loại

Nên tình người bao phủ trái tim tôi.

Nên đời tôi đã nguyện hiến dâng rồi

Cho hạnh phúc của loài người yêu mến”... (20 tuổi)

Đời sống xả kỷ vị tha được coi là một đức hạnh cao đẹp nhất của con người. Dù chúng ta chưa chứng được trạng thái vô ngã thực sự, nhưng trong từng phút giây, từng tâm niệm, chúng ta biết từ bỏ những lợi ích của mình để lo cho lợi ích của mọi người thì ngã chấp bên trong đang bị đốn phá dữ dội. Nó chuẩn bị cho sự chứng ngộ vô ngã chân thật ở mai sau.

Nào giờ chúng ta chỉ nghĩ đến những nhu cầu của mình như mình hãy còn thiếu đôi dép đẹp, còn thiếu chiếc xe tốt, chưa cất thêm được tầng lầu... mà quên đi nhu cầu của mọi người chung quanh. Ngày nay để gieo nhân giải thoát, chúng ta biết xoay ngược khuynh hướng đó lại, là hãy nghĩ đến nhu cầu của người chung quanh trước và xem nhẹ những sự đòi hỏi của mình. Đôi dép của người bạn đã cũ, cây viết của đứa em đã hư, nét mặt của cha mẹ có vẻ không vui, sức khỏe của người láng giềng dường như suy kém... Tất cả những biểu hiện đó đều bị chúng ta phát hiện nhanh chóng. Trước kia mãi lo cho bản thân mình, vô số nhu cầu người chung quanh bị phai nhạt. Hôm nay khi quên được mình, tự nhiên tình trạng của người chung quanh hiện rõ trong tầm mắt chúng ta. Và khi thấy được điều đó chúng ta sẽ cố gắng đáp ứng được cho họ, giúp cho họ qua được cơn khó khăn buồn khổ.

Một đức hạnh khác được đề cập đến là đặt mình vào hoàn cảnh người để cảm thông sâu sắc với họ. Đa số chúng ta chỉ biết đứng ở vị trí mình để phê phán người khác, không biết đặt mình vào hoàn cảnh họ để thông cảm. Mà đứng yên ở vị trí chủ quan của mình tức là ngã chấp được củng cố, còn quên đi vị trí của mình, tự đặt mình vào hoàn cảnh của người khác tức là phá dần ngã chấp.

Tranh mực đen trắng: những hòn đá và các vòng sóng trên cát.

Một anh công an hỏi cung một thanh niên bị bắt quả tang phạm tội móc túi ở bến xe. Thông thường, nếu đứng yên ở vị trí người bảo vệ an ninh xã hội, trước tang chứng không thể chối cải, người công an có thể khởi tố gã thanh niên vài tháng tù giam. Nhưng anh công an điềm tĩnh đi tìm hoàn cảnh, động cơ phạm tội. Thì ra người thanh niên là người tốt, rơi vào hoàn cảnh gia đình không may, đi thăm cha ở xa về hết tiền, không muốn bán chiếc quần dài lấy tiền mua vé, nên bất đắc dĩ đã tìm cách móc túi. Người công an tha bổng. Vài tháng sau anh được thư cám ơn của người thanh niên báo vào vụ mùa này, anh thu hoạch được ba tấn bắp. Người công an thầm nghĩ, nếu anh không thông cảm, tống giam người thanh niên ấy thì xã hội mất đi ba tấn lương thực.

Rất nhiều, rất nhiều khuyết điểm của người khác mà ta chỉ biết trách móc chê bai. Nếu ta bình tâm đặt mình vào hoàn cảnh của người, thì có khi sự tình đã xảy ra ngược lại, kẻ kia hành động đúng chứ không sai lầm như ta nghĩ. Hoặc có khi lỗi của họ còn lại rất ít, những yếu tố khác buộc họ phải hành động như thế. Biết đặt mình vào hoàn cảnh của người, lòng ta sẽ cảm thấy khoan dung độ lượng hơn.

Một đức hạnh khác cũng làm cho ngã chấp mỏng nhạt là tâm tùy hỉ, biết vui theo sự thành công của người khác. Bản chất vị kỷ nào giờ sản sinh ra tâm trạng đố kỵ. Chúng ta cảm thấy khó chịu trước sự vinh quang của kẻ khác. Sự thành công của họ làm cho ta bị lu mờ. Sự khó chịu đó được gọi là sự tật đố. Khi tâm tật độ quá mạnh, chúng ta có thể tìm cách mưu hại gièm pha để phá hủy sự thành công của người, để hạ bớt uy tín của họ. Tâm đố kỵ làm cho ngã chấp tăng trưởng, làm cho đường về giải thoát mất lối. Ngược lại, tâm tùy hỉ là biết quên mình để đồng hóa niềm vui của người làm niềm vui của mình. Nó góp phần làm hóa giải ngã chấp.

Thật ra sống trên cuộc đời này, niềm vui của mỗi người thật ít ỏi hiếm hoi. Vui bằng niềm vui của mình thì không có đáng là bao. Nếu chúng ta biết vui theo niềm vui của mọi người, đồng hóa niềm vui của mọi người làm niềm vui của mình thì thật cả cuộc đời ta bỗng thừa thải hạnh phúc.

Ngoài ra Phật bảo biết tùy hỷ với phước nghiệp của người khác, ta cũng được công đức tương đương. Thấy người đắp được đoạn đường, bố thí cho kẻ nghèo, giúp đỡ người chuyên tu... lòng ta vui mừng như chính mình làm được những điều đó, vui mừng vì kẻ nghèo hết khổ, người tu được ủng hộ, đường sá được sửa sang. Cái phước phát sinh từ sự tùy hỉ này cũng rất lớn.

Tranh mực đen trắng: hoa sen và lá sen trên mặt ao.

Ở phần trước chúng ta đã nói đến các nhân khiêm hạ đưa đến quả báo địa vị cao sang. Đó là nói trên phước nghiệp thế gian. Thêm nữa, khiêm hạ là biểu hiện rõ nét của sự vô ngã. Người ít ngã chấp luôn luôn thấy mình không quan trọng, mặc dù không phải là mặc cảm tự ti. Khiêm hạ và mặc cảm tự ti khác nhau. Mặc cảm tự ti là mặc cảm khi nhận thấy thân phận kém cỏi của mình trong khi mình vẫn thầm kín ao ước vươn lên một vị trí cao cả. Còn khiêm hạ là không thấy mình quan trọng, không có nỗi buồn âm ỉ, không có tham vọng đạt địa vị cao. Do không thấy mình quan trọng nên một tâm lý mới xuất hiện : Tôn trọng mọi người. Thật vậy, khiêm hạ và lễ độ luôn luôn đi đôi. Người khiêm hạ luôn luôn biết tôn trọng mọi người và sự tôn trọng đó được biểu hiện qua cử chỉ, lời nói để biến thành lễ độ.

Chúng ta cũng nhận thấy rằng ở những chế độ xã hội có văn hóa, sự lễ độ là điều không bao giờ thiếu. Con người biết biểu lộ sự tôn trọng lẫn nhau bằng các tập quán địa phương của họ. Trong đạo Phật, chấp tay xá chào và đảnh lễ là những hình thức thể hiện sự lễ độ.

Có một số người hiểu sơ sơ về thiền và chủ trương rằng tất cả mọi người đều bình đẳng nơi Phật tánh. Vì bình đẳng nên ai cũng như ai, không cần phải đối xử lễ độ với ai hết. Với lý luận như vậy họ ngông cuồng tự đại, xem thường mọi người, đánh mất lễ độ đáng quí của một con người.

Thật ra, sở dĩ Phật tánh bình đẳng vì có tính vô ngã. Nếu có ngã, Phật tánh trở thành sai biệt. Bởi vì mang tính vô ngã nên ai càng thể nhập Phật tánh càng trở nên khiêm cung lễ độ hơn lúc trước. Họ càng tiến tu càng trở lên hiền lành nhẹ nhàng. Cái tự cao ngày xưa dần dần biến mất.

Một đức hạnh khác đề cao sự vô nhiểm. Vô nhiễm là không chìm đắm vào các trò vui tạm bợ của thế gian để giữ lòng thanh thản dồn hết cho sự tu tập thiền định. Mỗi ngày, mỗi thời đại con người cứ sáng chế ra hết thú vui này đến thú vui khác để hưởng thụ. Từ khúc hát êm dịu, đến bức tranh đẹp đẽ, tiến đến những thú vui dữ dội như rượu nồng, ma túy... Thời đại máy tính cũng phát sinh ra những trò chơi khác để kích động những con người giữa thế gian đầy dẫy những sự mời gọi hưởng thụ.

Khó có ai giữ được sự vô nhiễm để dành tâm hồn cho sự tu tập giải thoát. Sự hấp dẫn của thú vui trần gian giăng bẩy khắp nơi. Người thật lòng muốn tránh né đôi khi còn bị vấp ngã huống hồ là kẻ không hề tránh né. Họ lao vào khoái lạc trần gian và mãi mãi chìm đắm vào đó để bị dày vò, dằn vặt, xao xuyến, bất an. Tấm huy chương của khoái lạc, cuối cùng, mặt trái của nó vẫn là đau khổ, ràng buộc.

Chính vì thấy bản chất của trò vui thế gian nên các tôn giáo có chiều sâu tâm linh đều đưa ra nhiều giới răn để ngăn cản tu sĩ hưởng thụ hầu giữ được sự vô nhiễm quí giá. Mỗi người chúng ta đều phải tự xét nét, giữ mình trong sạch vì thời đại hôm nay, sự cám dỗ quá nhiều, những tiêu chuẩn giới luật cũ không còn đủ để ngăn cấm nữa. Chúng ta phải tự lập cho mình một tiêu chuẩn mới, một hệ thống mới, để hoàn thành giới hạnh, điều chủ yếu là thoát khỏi sự cám dỗ chung quanh.

Vô số những đức hạnh làm NHÂN cho vô ngã, trợ duyên cho quá trình tu tập trong hiện tại mà những ai hướng tới sự giải thoát đều phải tự trang bị cho chính mình. Một vài đức hạnh nêu ra nơi đây chỉ là sự gợi ý nhỏ bé. Mỗi người phải tự thắp đuốc trí tuệ để sáng tạo từng giây phút thành muôn nghìn tế hạnh. Và chính những đức hạnh trong hiện tại này là nhân tố quan trọng đưa hành giả bay cao vào bầu trời giải thoát mai sau.