Tu sĩ
Trích từ Nghiệp và kết quảKhoảng 6 phút đọc

Có một số tôn giáo hoàn toàn không có giới tu sĩ chuyên biệt như Hồi giáo, Khổng giáo, Cao Đài giáo... Tất cả các tín đồ đều như nhau, vẫn sống đời sống bình thường với gia đình, trong đó một vài người được cử ra, nhận thêm trách nhiệm trong việc cúng lễ, giữ gìn đền thờ. Còn một số tôn giáo khác thì có tổ chức một hệ thống tu sĩ chuyên biệt, thoát ly gia đình, sống chan hòa trong khuôn khổ để dành trọn đời đi theo lý tưởng của đạo như đạo Phật, đạo Thiên Chúa...
Đối với tôn giáo có tổ chức hệ thống tu sĩ, thì vai trò của tu sĩ khá quan trọng trong việc duy trì tổ chức tôn giáo, giảng dạy giáo lý và nêu gương lành cho các tín hữu. Và để đáp lại, tu sĩ luôn luôn nhận được sự quí mến giúp đỡ rất nồng nhiệt của tín đồ.
Ở đây chúng ta không đề cập đến hạng người đi tu vì mong muốn hưởng thụ sự cung kính giúp đỡ của tín hữu. Chúng ta chỉ nói đến nghiệp duyên nào đã khiến cho một người phải trở thành tu sĩ mà thôi.
Điều hiển nhiên là đời sống tu sĩ giúp cho vị này thuận tiện trong việc tu hành hơn là đời sống tại gia. Người tu sĩ hầu như chỉ sống nhờ vào sự giúp đỡ của tín hữu, không bận tâm về sinh kế nên có khá nhiều thời giờ dành cho đạo. Với điều kiện thuận tiện như vậy, người tu sĩ sống nghiêm trì giới luật, nghiên cứu giáo điển, thực hành tâm linh để trở thành tấm gương sáng chói giữa cuộc đời làm chỗ dựa cho các tín hữu. Người tín hữu tại gia cảm thấy kính trong một vị tu sĩ như vậy nên không hề tiếc rẽ trong việc giúp đỡ cúng dường vị đó.
Hầu như vai trò của tu sĩ được đề cao quá mức đến độ trở thành thiêng liêng thần thánh. Các tín đồ dễ tin thì cúi đầu vâng phục không thắc mắc. Các tín đồ đa nghi thì xét lại phẩm giá từng vị. Còn những người vô thần thì công kích tối đa.
Có một số tu sĩ, do phước đời trước nên hiện diện tại một xứ sở mà người tín đồ ở đó trọn lòng tin kính và vị này sống suốt một đời tu sĩ đầy đủ, sung túc.
Có vị, do nghiệp đời trước đã từng gây khó khăn cho người tu, nên đời này cảm quả báo làm tu sĩ tại một xứ sở chính quyền và dân bản xứ có ác cảm với tôn giáo khiến cho đời sống tu hành không được thoải mái.
Nhưng để được làm tu sĩ, một người trong quá khứ phải đã từng biết kính trọng tu sĩ. Có kính trọng và giúp đỡ người tu, chúng ta mới gieo nghiệp nhân trở thành tu sĩ mai sau. Một số người hiểu đạo, hiểu thiền cũng muốn đứng vào vị trí tu sĩ, nhưng chưa gieo nhân đủ để làm tu sĩ lâu dài nên cuối cùng dù có được xuất gia, vẫn phải gặp trở ngại để quay lại với hình thức tại gia cư sĩ. Phước làm tăng của họ quá ít, không đủ kéo dài suốt đời còn lại.

Người làm tu sĩ lâu hay mau là do phước làm tăng của họ đã gieo đời trước nhiều hay ít. Có người đức hạnh cũng tốt, nhưng đời trước gieo phước làm tăng quá mỏng nên đời này không đủ để đi trọn đời. Trái lại, có người đức hạnh khiếm khuyết nhưng đời trước đã gieo phước làm tăng rất nhiều nên đời nay vẫn ung dung làm tu sĩ hết kiếp.
Trong “Tưởng Lão Tăng Kệ” có kể chuyện Tôn giả Sumangala hoàn tục bảy lần trước khi chứng Alahán. Nguyên nhân được tìm thấy là trong một tiền kiếp xa xưa, tôn giả đã khuyến khích một tôn giả hoàn tục khi huynh đệ đó đang buồn nản. Như vậy, sự trợ duyên khuyến khích cho người khác đi tu, cũng là cách gieo phước làm tăng, và ngược lại, sự cản trở chống đối việc xuất gia của người khác cũng làm cho mình mất phước làm tăng.
Tuy nhiên, việc này không thể nhìn một chiều. Chúng ta phải chín chắn khuyến khích một người đi tu khi thấy người đó có khả năng trở thành một tu sĩ chân chính mẫu mực, đủ sức để làm rạng danh cho Phật pháp. Được như vậy phước của chúng ta rất lớn. Còn những người không thể làm tu sĩ chân chính, hãy khuyến khích họ tập tu trong hoàn cảnh tại gia cư sĩ để chuẩn bị thêm. Đừng rủ rê lôi kéo họ vào vị trí tu sĩ một cách nông nổi vội vàng để rồi họ trở thành kẻ phá đạo, làm mất tín tâm của mọi người, và phước của người rủ rê cũng tổn giảm trầm trọng.
Hãy làm sao cho trong đạo pháp, thà ít tu sĩ, nhưng là những tu sĩ chân chính cao thượng, hơn là nhiều mà tạp nhạp lôi thôi.
Khi một người đã đứng vào vị trí tu sĩ đương nhiên họ nhận được sự kính trọng và giúp đỡ của các tín đồ. Họ đang hưởng những cái phước mà đã từng gieo trong quá khứ. Nếu họ không tạo phước tiếp tục, phước cũ sẽ hết. Hoặc là phước đó hết quá sớm, họ phải hoàn tục trong kiếp này. Hoặc là phước đó hết muộn, họ phải trở lại làm cư sĩ tại gia ở kiếp sau và phải làm lụng vất vả để đền bù sự thụ hưởng ở kiếp trước.

Nhưng cách tạo phước của người tu sĩ có khác với người tại gia. Người tu sĩ không cần phải làm kinh tế kiếm tiền để bố thí cúng dường, vì chuyện đó thuộc về lĩnh vực của cư sĩ. Người tu sĩ cần phải sống với giới hạnh đẹp đẽ, thông suốt giáo lý, đạt được tâm chứng sâu xa, và cuối cùng là tuyên giảng giáo pháp cho mọi người. Chính việc rao giảng giáo pháp mới là công đức quan trọng của người tu sĩ. Nó chuyển hóa tâm hồn của mọi người trở nên thánh thiện đạo đức. Ích lợi của nó còn lớn hơn sự bố thú cúng dường tài vật. Với một số tiền, người ta có thể sống qua một thời gian rồi hết. Nhưng khi hạt giống đạo đức đã gieo vào tâm hồn họ rồi thì nó sẽ nảy nở mãi từ kiếp này sang kiếp khác. Với đạo đức đó họ sẽ làm được nhiều việc thiện và hạnh phúc tràn ngập cuộc đời họ. Hơn nữa, giáo pháp còn dạy họ hướng về giải thoát giác ngộ. Đây mới là nguồn hạnh phúc an lạc vĩnh hằng tuyệt đối. Công đức của vị thầy truyền bá giáo lý giải thoát là vô lượng vô biên, không bút mực nào tính kể hết được.