Bỏ qua, đến nội dung chính
Về chủ đề Công đức

Bồ Tát Ứng Dụng Luật Nhân Quả Trong Giáo Hóa Chúng Sinh

Trích từ Nhân quả công bằngKhoảng 7 phút đọc

Bồ Tát Ứng Dụng Luật Nhân Quả Trong Giáo Hóa Chúng Sinh

Đạo Phật có những quan điểm khác với các tôn giáo khác. Ví dụ, các tôn giáo tin rằng Thần Thánh có đủ phép, đủ thần lực để thay đổi số phận con người. Trong khi đó, đạo Phật lại tin là mọi chuyện đều do nhân quả. Nếu Bồ tát sử dụng thần thông thì cũng đều tính toán trên luật Nhân Quả chứ không bao giờ dùng một cách độc lập. Điều này càng cho thấy Bồ tát rất trí tuệ, vì chỉ những người có trí tuệ mới biết ứng dụng luật Nhân Quả vào cuộc đời. Nó sẽ định hướng cho việc giáo hóa chúng sinh và chỉ rõ con đường cần bước tiếp trong tương lai.

Nghĩa là trước khi làm một việc gì đó, Bồ tát luôn phải cân nhắc dựa trên nhân quả, chứ không bao giờ ỷ mình có năng lực rồi biểu hiện năng lực đó ra bên ngoài hay tác động vào chúng sinh theo ý muốn của mình.

Chúng ta cũng hiểu và tin luật Nhân Quả, nhưng mức độ hiểu còn thấp nên thường bị sai. Bồ tát hiểu rất thâm sâu nhưng vẫn thua Phật. Chỉ Đức Phật mới chứng ngộ tuyệt đối và hiểu nhân quả một cách trọn vẹn.

Luật Nhân Quả rất sâu xa vì nó là vũ trụ. Trong vũ trụ, có rất nhiều thứ mà mắt thường ta không nhìn thấy được, đặc biệt là các trường. Trường cao nhất, cốt lõi nhất, tuyệt đối nhất là trường nhân quả. Vì vậy, một người chứng đạo, hiểu được luật Nhân Quả sâu xa sẽ không làm sai điều gì, vì biết mọi thứ đều bị nhân quả chi phối.

Trong cuộc đời này, việc đối nhân xử thế mà không được xây dựng trên luật Nhân Quả thì chúng ta chỉ làm hại cho nhau. Riêng Bồ tát, vì biết rõ nhân quả nên chỉ làm lợi cho chúng sinh. Lại thêm, khi thấy lỗi lầm của người khác, Bồ tát cũng không trách vì mọi việc đều có nhân quả, có nguyên nhân của nó. Thế nên, đạo lý Phật dạy ta ghét việc ác chứ đừng ghét người ác. Nếu không, có một ngày ta cũng sẽ trở thành người ác.

Một bậc Bồ tát khi muốn giáo hóa, độ chúng sinh thì phải hiểu hết nhân quả của người đó. Trong vô lượng kiếp, chúng sinh đã gieo những nhân gì để có cách giáo hóa tối ưu, chứ không phải tất cả đều giống nhau, đều biết đạo.

Chúng ta đến với đạo có bảy mức độ.

Đầu tiên là biết đạo. Nghĩa là ta có duyên gặp Phật Pháp, được nghe một bài giảng, được ai đó rủ đi chùa. Nhờ vậy, hiểu về Phật Pháp, về nhân quả cũng như việc tu hành giải thoát.

Mức độ thứ 2 là mến đạo. Hỏi nhiều người về Phật Pháp thì họ biết nhưng rủ đi tu tập thì họ tìm mọi cách để từ chối. Những người này biết, nhưng không mến đạo vì duyên của họ chỉ đến vậy thôi.

Mức độ thứ 3 là siêng năng học hỏi, tìm hiểu về đạo. Người nào mến đạo rồi thì mới muốn biết sâu về đạo. Lúc này, cuộc sống, suy nghĩ, nội tâm của họ đã khác rất nhiều so với khi hiểu đạo sơ sơ.

Tranh mực đen trắng: vài thân tre thẳng với những chiếc lá rủ xuống.

Mức độ thứ 4 là bắt đầu thực hành đạo lý. Khi hiểu đạo kỹ rồi, buộc người đó phải thực hành tu tập những công phu về tâm linh và sống đúng với đạo lý. Sống đúng đạo lý là biết cân nhắc tội phước trước khi làm mọi việc, biết kiềm chế bản năng, biết giúp đỡ người khác. Đây là một bước tiến rất dài trên con đường tu tập.

Mức độ thứ 5 là hóa đạo. Khi người hành đạo đến mức độ sống và suy nghĩ đúng theo đạo lý rồi, thì tự cái ảnh hưởng của họ sẽ lan ra cuộc sống của những người xung quanh một cách tự nhiên, không cố ý. Thực tế, dù chưa mạnh nhưng trong đầu họ lúc đó đã xuất hiện suy nghĩ mang đạo Pháp đến với chúng sinh.

Mức độ thứ 6 là hộ đạo, tức là bắt đầu có ý thức bảo vệ Phật Pháp. Đến đây, ta thấy Phật Pháp chính là ánh sáng, là tài sản quý giá của thế gian. Đó cũng chính là viên ngọc đem lại rất nhiều lợi ích cho cuộc đời này. Vậy nhưng, từ thời Đức Phật đến giờ, đạo Phật luôn bị chống phá bằng nhiều hình thức tinh vi. Vì lợi ích riêng tư, lợi ích nhóm hay tình cảm riêng với tôn giáo mình, nhiều thế lực đã không công nhận mà còn muốn diệt đạo Phật, khiến nhiều giai đoạn, đạo Phật rơi vào tình trạng khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng.

Chúng ta thử tưởng tượng, nếu một ngày đạo Phật mất đi, thế gian này sẽ chìm trong bóng tối, con người chỉ còn lại hơn thua, hận thù, cái thiện mất đi chỉ còn lại cái ác, thế giới sẽ sớm bị diệt vong. Không muốn điều này xảy ra, lúc nào họ cũng có ý thức đoàn kết và bảo vệ Phật Pháp rất cao, vì biết rằng luôn có rất nhiều âm mưu hiểm độc đang nhằm vào đạo Phật.

Mức độ thứ 7 là chứng đạo. Sau nhiều công đức từ khi biết đạo đến lúc hộ đạo, tâm linh bắt đầu khai mở giúp ta chứng một quả vị Thánh. Ta bắt đầu sống một cuộc đời khác mặc dù người ngoài nhìn vào, vẫn thấy ta là người bình thường. Vậy nhưng, nội tâm ta đã là một người khác hẳn. Lúc đó, ai nói xấu ta, họ sẽ chịu quả báo nặng nề, ngược lại ai khen ta thì được phước rất lớn. Tuy nhiên, muốn đạt được mức độ 7 này rất khó vì công đức phải rất lớn.

Bồ tát muốn độ chúng sinh cũng dắt chúng sinh đi theo đúng 7 mức độ đó. Tùy thuộc vào trí tuệ, mỗi vị Bồ tát lại có những cách khác nhau, từng bước dần dắt chúng sinh đến với đạo. Để đi từ mức độ thứ nhất đến mức độ thứ 7 là cả một quá trình gian nan, tốn nhiều công sức, thời gian và tiền bạc.

Tranh mực đen trắng: những hòn đá và các vòng sóng trên cát.

Không chỉ nghĩ cách để chúng sinh biết đến và chịu tu tập một cách nghiêm túc, Bồ tát còn luôn phải che chở, theo dõi, giúp đỡ để chúng sinh giữ vững được lòng mến đạo của mình. Một khó khăn, thách thức hay một âm mưu chống phá của các thế lực thù địch cũng có thể làm chúng sinh mất đạo tâm, mất luôn cả lòng tin với Phật Pháp. Như vậy, thật uổng phí. Lại thêm, phải sử dụng nhân quả chứ không được dùng phép thần thông, nên việc giáo hóa chúng sinh lại càng thêm cực.

Tuy không thể lúc nào cũng bên cạnh để kèm cặp, hướng dẫn, nhưng các vị Bồ tát thì lúc nào cũng dõi theo ta để uốn nắn kịp thời khi cần thiết. Điều quan trọng nhất ta phải nhớ là muốn đắc đạo, cần phải có phước cực lớn. Đây là lý do mà Bồ tát không dùng thần thông, hô biến một cái cho chúng sinh đắc đạo ngay. Ngược lại, các vị luôn tìm cách để chúng sinh tự gây tạo phước cho mình.

Không chỉ tạo phước mà tu cũng vậy. Ta tu là ta phải tự ngồi thiền, tự tụng Kinh, lễ Phật chứ không thể nhờ người khác làm thay được. Để chúng sinh tự làm được những việc này rất khó, nhưng Bồ tát buộc phải làm cho bằng được.

Muốn dìu dắt chúng sinh thì phải biết cơ duyên, cá tính, lịch sử riêng của từng người trong các kiếp. Làm thế nào để đưa họ đến với đạo Phật một cách tự nhiên và thích hợp nhất. Đồng thời, biết cách gỡ bỏ những quả báo từ đời trước, để chúng sinh có thể trở nên thân thiện, hòa đồng, yêu thương được tất cả mọi người, mọi loài. Công việc này rất phức tạp, đòi hỏi trí tuệ rất cao chứ không hề đơn giản.

Hiểu hết được những cái khó mà một vị Bồ tát phải đối mặt khi chấp nhận giáo hóa chúng sinh thì tâm chúng ta khởi lên một niềm yêu kính vô bờ bến với các Ngài. Nơi các Ngài, luôn chất chứa những công hạnh cực khổ, phải tu trong vô lượng kiếp mới thành. Cho nên, khi quỳ xuống lạy Phật và Bồ tát, ta hiểu rằng lòng mình có kính yêu bao nhiêu cũng không đủ.