Phật dạy khí công làm nền tảng của thiền định
Trích từ Khí công là nền tảng của thiềnKhoảng 7 phút đọc

Khi dạy phép quán niệm hơi thở (Trung Bộ Kinh), rõ ràng Phật đã dạy phần đầu là Khí công. “Hơi thở vào ta biết hơi thở vào, hơi thở ra ta biết hơi thở ra” biết thôi chứ không có điều khiển. Rồi “Hơi thở vào dài ta biết hơi thở vào dài, hơi thở ra dài ta biết hơi thở ra dài", cũng không điều khiển, chỉ biết mà thôi.
Giống như vậy “Hơi thở vào ngắn ta biết hơi thở vào ngắn, hơi thở ra ngắn ta biết hơi thở ra ngắn”, cũng không can thiệp gì, chỉ biết thôi.
Phần trên đây là căn bản của Khí công thượng thừa. Biết hơi thở mà không điều khiển nên bản ngã rất ít bị dấy động. Nếu ta cố gắng điều khiển hơi thở theo ỷ mình thì Bản ngã bị dấy động mạnh dần, càng tu càng dễ nổi sân.
Đến khi hành giả đã quen với công phu Biết hơi thở mà không điểu khiển thì Phật dạy thêm một bí quyết quý giá, đó là “Cảm giác toàn thân tôi thở vào, cảm giác toàn thân tôi thở ra”. Khi ta an trú được toàn thân, biết rõ toàn thân, cảm giác được toàn thân, thì sinh lực đã xuất hiện dần dần. Nhưng ban đầu ta chỉ cảm giác toàn thân ở ngoài da mà thôi, chứ không cảm giác được bên trong tạng phủ. Lâu ngày ta sẽ cảm giác được cả bên trong tạng phủ. Tâm càng yên thì cảm giác toàn thân, cả trong lẫn ngoài, càng rõ dần, và sinh lực tiềm tàng cũng hiện hữu nhiều hơn.
Dần dần ta nhận ra rằng nguồn sinh lực làm thân yên, tâm ổn lại nằm ở bụng dưới chứ không phải phần trên cao, lại càng tuyệt đối không phải ở trên đầu. Lúc đó ta tự biết mình nên an trú nhiều ở phía dưới, nhất là bụng dưới. Trong đời sống, mỗi khi gặp việc phức tạp, ta vẫn lặng lẽ an trú tâm ở bụng dưới, bỏ cho cái đầu trống rỗng, vậy mà bình thản sáng suốt để giải quyết chứ không mất bình tĩnh như trước kia.
Dụng công thêm một thời gian nữa ta phát hiện ra huyệt Đan Điền mà các đạo gia luyện công hay nói đến như là một điểm kỳ diệu tạo nên nguồn nội lực. Huyệt Đan Điền này không phải nằm ở ngoài da như ta vẫn tưởng, mà nằm lơ lửng ở trong bụng dưới. Huyệt này giống như trọng tâm của cơ thể, mà cũng là cái gốc của Thần kinh não trung ương. Biết được huyệt này, để tâm được nơi huyệt này thì thần kinh trung ương khai mở. Đây là bí quyết ảo diệu của Phật gia khí công. Điều này cũng khác với các môn ngoại giáo kêu ta để tâm trên đầu, giữa chặn mày, hay đỉnh đầu, lại làm suy não bộ về sau.
Cái cảm giác toàn thân đến cấp độ cao khiến hành giả cảm nhận như thấy được các bộ phận cơ thể của mình, thậm chí cả máu chảy, mạch nhảy, ruột cơ bóp,... Ngày xưa các bậc Thánh phát hiện ra được các huyệt đạo vô hình cũng là do công phu tĩnh tọa thiền định đến mức độ cao siêu này.
Thật ra khoảng cách giữa Khí công và Thiền chỉ là một sợi tơ.

Khi hành giả tập quán niệm hơi thở đúng như thế thì, ngoài sinh lực nội tại phát triển dần dần, sức Tỉnh Giác của tâm cũng hiện ra theo. Sức Tỉnh giác này là trạng thái không diễn tả bằng lời, mà chỉ là ai ăn nấy ngon, ai uống nấy biết nóng lạnh.
Khi Tỉnh giác, hành giả nhận ra hai điều, một là cái sáng suốt để tự biết về nội tâm và toàn thân rõ hơn, hai là luôn nhớ công phu đang tu tập.
-Thứ nhất, sáng suốt để tự biết về nội tâm và toàn thân rõ hơn, nghĩa là hành giả biết rõ các ý niệm đang khởi lên trong tâm mình chứ không bị cuốn trong các ý niệm đó. Giống như ta ở bên ngoài các ý niệm đó vậy. Đồng thời Tâm cứ an trú “dính” với thân không rời ra. Lúc nào cũng an trú toàn thân.
-Thứ hai, luôn nhớ công phu tu tập, nghĩa là cái công phu thở vào thở ra không bị quên nữa. Khi chưa có sức Tỉnh giác này thì hành giả hay bị quên hơi thở, tập được một lúc là vọng tưởng khởi lên cuốn tâm đi theo. Khi đã có sức Tỉnh giác này rồi thì tự nhiên ít bị quên, cứ thấy rõ hơi thở hoài.
Dùng công phu quán niệm Hơi thở để giúp hành giả tạo ra nguồn Sinh lực nội tại và sức Tỉnh giác mầu nhiệm là trí tuệ của Bậc Chánh Giác vĩ đại không gì quý giá bằng. Nhiều người tu thiền thích đi tìm triết lý cao siêu mà bỏ qua phép quán niệm hơi thở này nên tu lâu rồi cạn dần sức sống. Trí tuệ và từ bi của Phật là không ai so sánh được, nên đã cẩn thận dạy đệ tử phép quán niệm hơi thở, tức là Khí công, trước khi bước vào thiền định thâm sâu. Bởi vì thật ra, từ Khí công bước qua Thiền định chỉ có một sợi tơ.
Khi đã có Sinh lực nội tại tiềm tàng, và sức Tỉnh giác sáng suốt rồi, hành giả chỉ cần quán chiếu “Thân là vô thường, Tâm là biến dịch, thực sự chẳng có gì là ta cả, Buông bỏ vọng tưởng”, ngay lúc đó hành giả đã bước qua cảnh giới của Thiền, vậy thôi. Lúc đó hành giả cũng chưa chứng đắc gì cao siêu, nhưng hành giả đã gieo nhân giác ngộ giải thoát thật sự vì đã quán “Thân vô thường, Tâm biến dịch, chẳng có gì là ta, Buông bỏ vọng tưởng”.
Thật ra Nền tảng của Thiền gồm 3 điều là: Đạo đức, Công đức, và Khí công. Nếu nói cho rộng hơn, theo như Bát chánh đạo, thì các chánh ban đầu là gốc của chánh niệm (Thiền). Các chánh ban đầu bao gồm những điều đạo đức (Chánh tư duy), những điều công đức (Chánh ngữ, Chánh nghiệp). Có đủ các chánh trước (đạo đức và công đức) rồi mới có Chánh niệm và Chánh định (Thiền).

Ai cũng phải tu dưỡng đạo đức cho thuần thục, phải tạo rất nhiều công đức cho đời, thì mới có đủ phước để bước vào Thiền. Trường hợp những người bị nghiệp chướng đời xưa thì lại càng phải vất vả hơn nhiều. Nói chung, cứ phải sám hối nhiều, cứ phải làm phước nhiều, thì mới có sửc mạnh hỗ trợ cho việc tu tập thiền định giải thoát. Ai chủ quan cho rằng chỉ cần thông minh giỏi tu siêng năng thì sẽ được kết quả tốt, thì thật tai hại, vì phước cạn thì kết quả của thiền giảm dần rồi biến mất luôn.
Một điều hết sức quan trọng nữa là mục tiêu của sự tu tập hướng về đâu.
Nếu ai không hướng vê mục tiêu Vô ngã thì xem như ra ngoài khỏi chánh đạo của Phật. Tất cả công hạnh của ta buộc phải hướng hết về mục tiêu Vô ngã thì mới đúng là chánh pháp của Phật. Ta cứ xem vị tông sư dạy đủ thứ chuyện mầu nhiệm, nhưng nếu vị này quên nói về Vô ngã thì ta đi tìm vị khác. Nếu không nắm chặt mục tiêu Vô ngã thì giữa đường đi, tâm kiêu mạn khởi lên phá hủy sạch sẽ mọi thành quả tu hành của ta.
Hành giả phải có căn bản về công phu quán chiếu Vô ngã. Ban đầu là quán Thân này vô thường, Tâm này là biến dịch; kế tiếp là quán Chẳng có gì là ta. Tâm chẳng phải là ta, thân chẳng phải là ta, chẳng có gì là ta. Mỗi khi tâm tỉnh giác thì lập tức nhớ rằng thân này Vô thường, tâm này là biến dịch, và chẳng có gì là ta, Buông bỏ vọng tưởng. Suốt ngày phải tu tập như vậy cho thuần thục.