Các Mức Độ Tin Hiểu Nhân Quả
Trích từ Nhân quả công bằngKhoảng 7 phút đọc

Trên thế gian này, chúng ta có thể tạm chia thành 4 hạng người theo mức độ tin hiểu nhân quả:
Đức Phật là người biết rõ nhân quả nhất, biết rõ một cách hoàn toàn, trọn vẹn tới từng chi tiết nhỏ. Luật Nhân Quả không hề dễ hiểu, không hề đơn giản giống như ở hiền gặp lành, gieo dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Thực ra, luật Nhân Quả vô cùng phức tạp, không ai hiểu hết, chỉ có Đức Phật mới hiểu hết đường đi của nhân quả mà thôi. Cho nên, người thứ nhất, ưu việt nhất, hiểu nhân quả nhất và dường như chỉ có một, đó là Đức Phật.
Thứ hai là các vị Thánh. Đó là những người hiểu được phần lớn về luật Nhân Quả nhưng dĩ nhiên là không hiểu hết. Để đánh giá thế nào là một vị Thánh ở trấn gian này, chúng ta hãy xem trí tuệ của người đó biết nhiều về luật Nhân Quả hay chưa. Không phải người có phép mầu là Thánh, cũng không phải người thuyết Pháp “như mây như mưa” là Thánh, mà phải là người biết nhiều về nhân quả một cách rõ ràng, sâu sắc thì người đó mới là Thánh.
Hạng người thứ ba là người tốt, tin nhân quả.
Hạng người thứ tư là người xấu, không tin nhân quả.
Tạm thời chúng ta phân theo bốn hạng người như vậy, không căn cứ theo giai cấp, theo tiền bạc, theo dòng giống, huyết thống hay chủng tộc mà chỉ phân biệt con người theo trình độ hiểu biết về nhân quả.
Ở đây, chúng ta chỉ để cập đến hai hạng người cuối là người tin nhân quả và người không tin nhân quả.
Hạng người tin nhân quả mà chúng ta cho là người tốt, và tại sao họ tin? Chúng ta sẽ hỏi một người: “Nhân quả là điều khoa học chưa chứng minh được, vì sao anh lại tin nhân quả?” - “ Tôi đã giúp đỡ tiền bạc cho một người bị bệnh đang cần thuốc, giúp người ấy khỏi bệnh. Người mà tôi cứu là chủ một gia đình, nên khi khỏe mạnh ông ấy có khả năng nuôi được cả nhà. Giúp ông hết bệnh là xem như cứu cả gia đình chứ không chỉ một người. Nhờ nhân quả ấy mà ba mươi năm sau quả phúc trở lại, tôi làm ăn được thành công, trở thành người giàu sang”.
Chúng ta tiếp tục thắc mắc: “Làm thế nào mà anh tin được sự giàu sang ngày nay là chính do 30 năm trước giúp người kia khỏi bệnh? Khoa học không chứng minh, không con mắt nào thấy được, chỉ có các vị Thánh mới thấy. Mà các vị Thánh có nói lại điều đã thấy thì mình cũng chỉ tin các vị thôi chứ không chứng minh được”.
Nếu là người tốt, người tin nhân quả thì họ sẽ trả lời:
“Thứ nhất, có những điều mà chúng tôi chỉ nghe người khác nói lại nhưng phải tin. Ví dụ, có nhiều người chưa từng đi máy bay nhưng vẫn tin rằng máy bay thì bay được, tin rằng đã có người chê được máy bay và có người đã đi máy bay. Tuy họ chưa trải qua điều đó nhưng phải tin có người làm được. Hoặc chưa ai thấy được cảnh tượng người ta phóng phi thuyền lên quỹ đạo hoặc đáp xuống mặt trăng nhưng chúng tôi vẫn tin, vì chuyện đó cả thế giới đều biết và đã có người làm được”.

Thì cũng vậy, có vị Thánh đã dùng thần thông và đạo nhãn siêu việt của mình thấy được người giàu sang ngày hôm nay là do 30 năm trước đã cứu giúp một gia đình hoạn nạn, nên mình tin vì thấy hợp lý. Cũng giống như mình tin là máy bay bay được, vì có người nói nguyên tắc máy bay bay là cánh tựa trên không khí và bay trong nguyên tắc phản lực, như vậy là hợp lý. Lý thuyết đúng, thực hành có, nhiều người thấy, và mình tin. Cho nên, chúng ta có thể nói rằng một vị Thánh nhìn thấy được quả báo ba mươi năm sau của một người là hợp lý, đúng nhân đúng quả. Đây là lý do thứ nhất khiến chúng ta tin là có nhiều người đúng, nhiêu người chân chính đã thấy như thế.
Luật Nhân Quả là một tiên đế được thừa nhận không cấn phải chứng minh. Cái gì thì có thể từ từ khoa học sẽ tìm ra dần, nhưng riêng Luật Nhân Quả Nghiệp Báo, tức là một người làm việc ác, gây khổ chúng sinh sau này sẽ phải trả quả báo tương xứng, thì cái quy luật đó còn rất lâu khoa học mới tìm tới.
Luật Nhân Quả là một định đế không cần chứng minh. Một định đế không cần chứng minh là sao? Trong toán học có một phạm trù gọi là định để, mà đã là định đê thì chỉ có chấp nhận không chứng minh, biết nó đúng nhưng không chứng minh được, chỉ chấp nhận như ta tin mà thôi, ở đây, ta đến với đạo Phật cũng vậy, cho tới ngày mà chứng minh được Luật Nhân Quả còn rất xa. Vì thế, ngày hôm nay đối với những người đệ tử Phật chúng ta thì Luật Nhân Quả vẫn là một định đề, một chân lý không thể chứng minh được, chỉ có chấp nhận mà thôi. Cái may cho ta là ta chấp nhận được định đề này, vì đó là chân lý của vũ trụ; cũng như cái may của các nhà khoa học là chấp nhận được định đề Euclid (toán học) và từ đó dựng lên cả một hệ thống khoa học mênh mông. Nếu ngay từ đầu người ta không chấp nhận định đề Euclid thì ta không có hệ thống khoa học ngày hôm nay, cái gì cũng mờ mờ, nhưng để có thể chứng minh được họ phải bắt đầu từ một định đề không chứng minh được.
Khoa học là những điều logic, hợp lý, chứng minh được trên lý thuyết và kinh nghiệm; tức là trong lý thuyết nói như vậy thì trong thực tế phải chứng minh cho ra. Ví dụ nói rằng: Hai góc đối của hai đường thẳng cắt nhau thì phải bằng nhau (hai góc đối đỉnh), thì lý thuyết vậy rồi nhưng phải kẻ ra, đo đúng như vậy; tức là lý thuyết đúng rồi nhưng thực nghiệm đúng, vì đó là những điều được chứng minh. Nhưng tất cả những điều được chứng minh của khoa học thì phải bắt đầu từ một định đề không chứng minh được, đó là định đề Euclid.
Đạo Phật cũng như vậy, đạo Phật là tất cả mọi điều hết sức là đạo đức, nhân bản, hợp lý, logic, tất cả đều chặt chẽ chứng minh được hết và tất cả những điều đó cũng bắt đầu từ một định đề không chứng minh được, đó là Luật Nhân Quả.

Luật Nhân Quả là sao? Là gieo nhân gì gặt quả đó trong cái thiện ác, chứ không phải là cái nhân quả bình thường. Do trong vũ trụ, trong thế giới này có nhiều loại nhân quả, trong đó có một loại nhân quả dễ thấy nhất là loại nhân quả nông nghiệp. Ví dụ, gieo hạt xoài thì ra cây xoài, ra trái xoài - đó là nhân quả trong nông nghiệp. Rồi nhân quả trong vật lý, ví dụ khi ta đun nước tới 100°C thì nước sôi, khi ta hạ nhiệt độ xuống 0°c thì nước sẽ đóng đá; rồi khi virus xâm nhập ta thì ta sẽ ốm, v.v... Đó là những cái nhân quả trong thế giới vật lý, trong nông nghiệp, trong y học, nhân quả trong luật pháp. Nhưng riêng nhân quả mà đạo Phật nói là nhân quả sự báo ứng của thiện và ác. Trong đấy nó liên quan tới nỗi khổ niềm vui, tới hạnh phúc và cay đắng của con người. Nghĩa là chúng sinh trong pháp giới vũ trụ này đều bị chi phối bởi hai cảm thọ: khổ và vui. Ví dụ, đói thì ta khổ, no thì ta vui; không có tiền thì ta khổ, có tiền thì ta vui. Cứ như vậy, cảm thọ khổ - vui này chi phối hết kiếp người, tâm tình, động cơ sống của con người, và con người ta lúc nào cũng tránh khổ tìm vui. Hễ ta làm cho chúng sinh khổ thì ta mang nghiệp; ta đem niềm vui, hạnh phúc cho chúng sinh, thì ta được phước. Đó là nhân quả thiện ác báo ứng mà Đức Phật nói, đạo Phật nói.