Bỏ qua, đến nội dung chính
Về chủ đề Đạo đức

Yêu Quý Luật Nhân Quả Là Yêu Quý Sự Công Bằng

Trích từ Nhân quả công bằngKhoảng 19 phút đọc

Yêu Quý Luật Nhân Quả Là Yêu Quý Sự Công Bằng

Tính nổi bật, nét đẹp tuyệt vời của luật Nhân Quả chính là sự công bằng. Có người lần đầu tiên nghe nói về luật Nhân Quả vẫn dè dặt hỏi: “Thấy nói nhân nào quả nấy, nhưng làm sao chứng minh? Dựa trên khoa học ta không thể thấy được rằng thật sự ai ở hiền thì gặp lành, ai ở ác sẽ gặp dữ? Vì trong cuộc đời con thấy có người dữ mà vẫn giàu, người hiền mà vẫn nghèo. Mặc dù tin lời Phật dạy ở hiền ắt gặp lành, ở ác ắt sẽ gặp dữ. Khi nghe luật Nhân Quả là công bằng thì chúng con yêu thích, nhưng vẫn dè dặt hoài nghi dù rất muốn tin”.

Trong chúng ta, nhiều người chưa đù trí tuệ để thấy luật Nhân Quả vận hành một cách công bằng. Chỉ có những bậc Thánh mới có đủ trí tuệ để thấy, còn người phàm phu như chúng ta thì không đủ sức nhìn thấy. Tuy nhiên, chúng ta vẫn tin và chấp nhận. Nhưng tại sao chúng ta lại chấp nhận khi chưa đủ sức chứng minh? Vì nhân quả công bằng. Mặc dù hiểu rằng mình không đủ sức để biết nguyên lý đó có thật hay không, nhưng bởi vì chúng ta yêu sự công bằng của nhân quả nên đương nhiên chấp nhận luật Nhân Quả. Cho nên, chúng ta chấp nhận sống và dạy con cháu mình tin theo luật Nhân Quả. Vậy người tin nhân quả là người có đạo đức hay không? Chắc chắn đó là người có đạo đức. Vì chỉ những người có đạo đức mới yêu sự công bằng, và khi yêu sự công bằng thì họ mới chấp nhận luật Nhân Quả.

Nếu có người vin vào lý do: “Tôi không tin luật Nhân Quả, không chấp nhận luật Nhân Quả bởi vì khoa học không chứng minh được”, chúng ta hiểu ngay người này là người không đạo đức. Vì sao vậy? Bởi vì họ thiếu một điều là không yêu quý sự công bằng. Người mà đã không yêu quý sự công bằng là không đạo đức, và chắc chắn người đó thế nào cũng làm những điều sai quấy. Nếu có quyền chức lớn thì thế nào họ cũng lợi dụng quyền chức để hiếp đáp người khác lấy lợi về phấn mình. Còn nếu họ chỉ là một người bình thường thì trong đầu lúc nào cũng sẽ nghĩ đến chuyện làm sao lấy tiến trong túi người khác biến thành tiền trong túi mình.

Tranh mực đen trắng: cành mai với những đóa hoa nhỏ.

Trong món kinh tế học có một định nghĩa: "Làm thế nào để kiếm tiền?”. “Kiếm tiền” nghĩa là làm thế nào để tiền trong túi người khác trở thanh tiền trong túi của minh, đơn giản là vậy. Thật ra, nói đơn giản nhưng không đơn giản chút nào, vì “đồng tiền liền khúc ruột”. Tiền trong túi người ta là máu xương, là trái tim, là da thịt, là ruột gan của người ta, không thể dễ dàng lấy bỏ vào túi mình là được. Muốn dễ chỉ có cách trộm cướp, dí dao vào cổ rồi móc tiền trong túi người ta bỏ vào trong túi mình. Còn thông thường nếu muốn tiền trong túi người khác chạy vào túi mình thì mình phải làm điều gi dó khiến người ta vui, hoặc phải cung cấp điều gì mà người ta muốn. Ví dụ người ta muốn mua vàng mình có vàng, muốn mua xe mình có xe bán thì tiền của người ta mới qua túi minh được. Nghĩa là mình phải trả một công lao, một dịch vụ gì đó, một tài sản nào đó chứ không phải kiếm tiền là lấy tiền trong túi người ta cho vào túi mình.

Nhiều người vì không yêu quý sự công bằng. muốn kiếm tiền một cách dễ dàng bằng cách lừa đảo, thủ đoạn, trộm cắp thì chúng ta gọi là làm bậy, là không có đạo đức. Người làm bậy như thế, trước hết sẽ bị pháp luật xử, sau đó đến nhân quả xử. Đến lúc luật Nhân Quả xử mới thật là gay gắt. Có những điều luật pháp của xã hội xử không hết nhưng luật Nhân Quả xử không sót một mảy may nào. Thật vô cùng đáng sợ!

Bởi vì con người yêu quý sự công bằng nên đã đặt ra luật pháp, tòa án để xét xử. Chúng ta là con người biết yêu quý sự công bằng, nếu không thì chúng ta cũng giống như những con thú trong rừng mà thôi. Các loài thú trong rừng sống theo kiểu mạnh được yếu thua. Một con cọp khi xé xác con mồi thì trong đầu nó không có sự suy xét, chỉ cần biết đến sức mạnh, ăn được là ăn, nhưng con người thì không. Khi người này đánh đập ức hiếp người kia, lập tức có sự can thiệp của luật pháp và tòa án. Không cần biết giàu hay nghèo, tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Chúng ta được làm con người đúng nghĩa chân chính, sáng giá vượt lên hẳn loài vật vì chúng ta biết thiết lập tòa án, thiết lập pháp luật.

Tranh mực đen trắng: những hòn đá và các vòng sóng trên cát.

Vào thời xưa luật pháp rất đơn giản, càng về sau luật pháp càng tinh vi. Vì càng văn minh, càng trí tuệ thì con người ta càng công bằng hơn. Công bằng như thế nào? Trong bộ phim Bao Công xử án, chúng ta thấy luật rất đơn giản, giết người là đền mạng. Một vụ án giết người xảy ra, sau khi điều tra và thu thập bao nhiêu manh mối, đầy đủ nhân chứng, vật chứng, tìm ra kẻ phạm tội là lập tức chém không tha, không có những tình tiết giảm nhẹ. Ở thời điểm ấy, mặc dù Bao Công là vị quan rất thanh liêm chính trực, rất trí tuệ nhưng trí tuệ văn minh loài người thời ấy không bằng văn minh của loài người ngày nay. Thời nay, tội giết người được đem ra xử có xem xét động cơ, hoàn cảnh, tình tiết, không phải cứ phạm tội giết người là mang xử chém như thời xưa.

Có câu chuyện thương tầm nói về một thằng bé còn ở tuổi vị thành niên giết cha kế và bị bắt. Sau đó, có những người biết chuyện gia đình nó, liền trình bày lý do là bởi người cha kế kia quá độc ác. Người đàn ông đó đã hành hạ mẹ và anh chị em của thằng nhỏ một cách tàn nhẫn suốt cả thời gian dài kể từ khi sống chung. Sự uất ức dồn nén quá nhiều cho đến lúc không chịu đựng được nữa, nó đã cầm dao giết người cha kế và phạm tội. Trước hết là tội giết người nhưng khi tòa án đem ra xử thì nó còn đang ở tuổi vị thành niên. Thứ hai là nó quá bức xúc mà lỗi phần lớn là của nạn nhân đã dồn nén gây khổ cho gia đình nó trong suốt mười năm trời. Và để răn đe, tòa tuyên án tù nhưng hưởng án treo. Tòa án bây giờ khác với ngày xưa là vậy.

Chúng ta thấy con người càng văn minh trí tuệ thì càng yêu quý sự công bằng. Luật Nhân Quả chính là sự công bằng đó. Sự văn minh trí tuệ của con người rất phù hợp với sự công bằng trong luật Nhân Quả của đạo Phật, khiến con người tự nhiên dễ chấp nhận, dễ yêu quý đạo Phật hơn. Đấy là một điều chúng ta có thể tự hào, hãnh diện khi quỳ trước Phật đài lễ bái Đức Phật vì chúng ta biết đây là bậc Thánh đem đến đạo lý công bằng cho cuộc đời. Nhờ vậy mà biết bao nhiêu con người trên thế gian này đã biết tự kiềm chế lấy bản thân mình, không cho phép mình làm điều sai lầm mà chỉ khuyến khích mình làm những điều ích lợi, phúc thiện cho cuộc đời mà thôi. Vì thế, chúng ta không hề ngần ngại đảnh lễ Người với tất cả lòng tôn kính của mình.

Tranh mực đen trắng: núi non trùng điệp ẩn hiện trong sương.

Sự công bằng còn được thể hiện qua câu chuyện: Có tên cướp sau khi để ý thấy gia đình nọ có giấu một số của cải. Lợi dụng lúc sơ hở, hắn đột nhập vào trồi chủ nhà lại, gí dao vào cổ cắt từng miếng thịt để tra của. Người chủ nhà đau đớn, bị chảy máu quá nhiều không chịu nổi nữa đành phải chỉ chỗ chôn vàng. Tên cướp đào lên lấy được vàng rồi sau đó cắt cổ giết chết chủ nhà và trốn mất, luật pháp không tìm ra. Công an điều tra vụ án tình nghi anh ta chính là thủ phạm, nhưng hắn đã dùng tiền mua chuộc để chặn luôn cuộc điều tra. Thế là việc tình nghi bị bẻ sang một hướng khác, và cho tới ngày anh ta chết, vụ án đó trở thành vụ án “Không tìm thấy thủ phạm”.

Luật pháp thế gian, sự công bằng của thế gian do con người thiết lập, đã không đủ sức để giải quyết, xử lý hết tất cả mọi điều thiện, ác trên cuộc đời này. Nhưng luật Nhân Quả thì không tha. Tên tội phạm đó trốn được sự công bằng của luật pháp nhưng không trốn được sự công bằng của luật Nhân Quả. Hắn ta bắt đầu bị bệnh tật đau đớn hoành hành, từng khối u ung thư nổi lên đúng vào những chỗ mà hắn đã cắt xẻo trên thân thể người chủ nhà đó. Nạn nhân bị cắt chỗ nào thì trên cơ thể hắn chỗ đó cũng bị lở loét, đau nhức không lành. Cắt nạn nhân ở chân thì chân hắn bị lở loét; cắt ở nhượng nách thì nơi nách của hắn bị tê bại không nhúc nhích được và đau đớn như bị cắt. Sự đau đớn kéo dài suốt nhiều năm. Hắn ngủ không yên giấc luôn luôn thấy ác mộng, thấy những cảnh tượng trong bóng đêm bị rượt đuổi, bị giết, bị đốt, bị đâm... rất đáng sự, kêu la trốn chạy, hốt hoảng mà không ai cứu. Vợ nằm bên lay dậy, thấy hắn toát mổ hôi mà không biết chuyện gì. Hắn vừa phải chịu quả báo đau đớn về thân vừa bị hành hạ bởi những cơn ác mộng cho đến lúc chết. Vậy, hắn đã trả xong quả báo chưa? Chưa xong. Chết rồi hắn còn bị rơi xuống địa ngục và tiếp tục bị đày đọa. Trong cõi vô hình có một chốn mà Đức Phật gọi là địa ngục. Đó là nơi để trừng phạt những người mà luật pháp trên thế gian bỏ sót không xử hết. Những người phạm trọng tội chết xuống địa ngục tiếp tục chịu quả báo, tiếp tục chịu tội, bị đốt, bị đâm, bị chém, bị đày đọa vô cùng thê thảm.

Câu hỏi đặt ra là tại sao phạm tội giết một người đã bị quả báo cuối đời đau đớn khủng khiếp như vậy rồi mà chết vẫn phải xuống địa ngục chịu quả báo nữa? Chúng ta nên biết rằng, một hành động tội ác gây ra không phải chỉ tác động đến một mình nạn nhân mà còn ảnh hưởng đến nhiều người khác. Không phải chỉ có ông chủ nhà bị cắt xẻo, cắt cổ chết là xong. Còn vợ con ông ta khi phát hiện ra chồng, cha mình đã chết và tài sản mà hết thì chuyện gì xảy ra? Nỗi đau khổ không thể nào nói hết. Nổi đau khổ trong tâm vì người thân mình chết, điều đó không có cái giá nào đền bù được. Ai trong chúng ta đã từng chịu nỗi đau khổ khi có người thân bị chết oan, chết thảm thì sẽ hiểu đó là nổi đau tột cùng. Sự đau đớn đó không thể nào tưởng tượng được. Cho nên, đối với nỗi đau khổ của người vợ và những người con thì có trả bao nhiêu đời cũng không hết.

Đồng thời, toàn bộ tài sản bị mất hết nên những người con không thể tiếp tục đi học, phải rất vất vả mưu sinh và cuộc đời từ đó đi xuống nhanh chóng. Người vợ khi mất chồng phải bươn chải kiếm miếng ăn để duy trì cuộc sống cho gia đình; do lao lực qua nhiêu năm, bệnh hoạn rồi cũng chết sớm bỏ lại con cái mồ côi. Nếu những người con giữ được đạo đức thì tốt, trái lại, không giữ được đạo đức thì đến khi không còn cha mẹ, trở nên nghèo khổ lại thành cướp thì thật là bi đát. Hậu quả của việc giết một mạng người và cướp của sinh ra vô số hậu quả xấu cho cuộc đời này. Tên cướp kia giết một người, lãnh quả báo bị ung thư rồi chết vẫn chưa hết tội, phải xuống địa ngục trả tiếp qua hàng trăm năm hoặc vô số năm, rồi tái sinh làm người vẫn sẽ tiếp tục trả nghiệp. Mà vì sao vẫn còn phải trả nghiệp? Vì anh ta hại người khác mất cha mất mẹ sớm nên phải thọ quả báo mổ côi cha mẹ, thất học, phải bươn chải vất vả, lăn lộn kiếm sống giữa cuộc đời.

Chúng ta thấy, luật pháp thế gian xử tội đơn giản, tử hình tên cướp ấy là xong hoặc phạt tù vài chục năm là hết. Nhưng luật Nhân Quả tính từng chút một những hậu quả, những đau khổ mà người đó gây ra cho cuộc đời này, xử không sót một điều nhỏ nhặt nào. Chúng ta cần phải nhớ luật Nhân Quả là như thế.

Tranh mực đen trắng: vầng trăng tròn trên núi xa, vài cánh chim bay.

Ngược lại, trong một trường hợp khác, có một thanh niên sống rất đàng hoàng, không gian tham, cũng có trình độ nhưng chưa có công ăn việc làm. Nhờ những mối thân quen, ta giới thiệu người thanh niên này với một công ty; “Tôi thấy anh này ngoan, có đạo đức, trình độ, nhưng vẫn chưa tìm thấy công việc phù hợp, trong khi đó tôi cũng được biết bên công ty mình cũng đang cần người, nên tôi giới thiệu mong là công ty có thể nhận, để tạo điều kiện công ăn việc làm cho người này”. Tức là ta đã dùng lời nói ân cần, tử tế và sự uy tín của mình khiến phía công ty nhận anh thanh niên này vào làm việc. Nếu công việc có thu nhập cao, người này không chỉ lo được cho bản thân mà còn lo cho cả gia đình. Điều quan trọng là không còn nỗi lo lắng chuyện cơm áo gạo tiền mỗi đêm, và sự an ổn đó thì không gì có thể so sánh được. Bởi vì đối với những người không có việc làm, ăn chén cơm hôm nay không biết ngày mai có cái gì để ăn nữa hay không, sự bất an ám ảnh đó cứ đè nặng trong tâm họ rất khủng khiếp. Vì vậy, khi chúng ta giúp cho người khác nhẹ đi nỗi lo, được hạnh phúc an vui thì không tiền bạc nào có thể đền đáp được, vì đó là vô giá.

Cũng vậy đối với những điều tốt đẹp chúng ta mang lại cho người khác, quả báo đến với mình cũng rất thù thắng. Khi ta tìm được việc làm cho một người, không phải sau đó ta được trúng số mấy trăm triệu là hết, hệ quả còn kéo rất dài, rất lớn. Niềm vui, sự may mắn sẽ kéo dài cả một đời mình, kéo dài đến cả đời con cháu mình, khi chúng trưởng thành đều có được việc làm dễ dàng và ổn định. Cho đến khi về già ta cũng được yên vui, được hạnh phúc khi thấy con cháu mình thành đạt. Nhân quả công bằng là vậy.

Chúng ta yêu sự công bằng nên không muốn thế gian này bất công. Nếu có bất công thì chỉ là tạm thời. Ví dụ như một người xấu đang giữ chức vụ cao, luôn cậy thế lần át người dưới, không cho người tài người giỏi tiến lên, đó là sự bất công. Nhưng chúng tôi tin rằng sự bất công đó chỉ là tạm thời, cuối cùng cuộc đời này vẫn là công bằng, vũ trụ này vẫn là công bằng. Người xấu đó sẽ bị phát hiện, sẽ bị mất chức, còn người tài giỏi hiền lành kia thì một ngày nào đó cũng sẽ vượt lên để làm được điều tốt cho cuộc đời.

Chúng tôi yêu sự công bằng nên tin luật Nhân Quả.

Người tốt, tại sao họ tin luật Nhân Quả? Bởi vì họ yêu sự công bằng. Cho nên chúng ta đánh giá người tốt hay không là ở chỗ họ có yêu sự công bằng hay không. Người tốt phải được hưởng điều tốt, người xấu phải bị phạt, đó là sự công bằng. Vì thế, ai yêu sự công bằng thì người đó có đạo đức và tin luật Nhân Quả.

Tranh mực đen trắng: chiếc thuyền nhỏ trên mặt nước lặng.

Người xấu vì sao không tin luật Nhân Quả? Vì người đó không yêu sự công bằng. Nhưng tại sao họ không yêu sự công bằng? Vì họ chỉ làm điều xấu nên rất sợ có sự công bằng. Nếu có sự công bằng thì một ngày nào đó họ phải trả giá cho những việc làm xấu xa của mình. Ví như một người chuyên trộm cắp, lừa đảo thì có tin luật Nhân Quả không? Chắc chắn là không. Họ không tin bởi vì họ không muốn phải chịu quả báo.

Còn người quanh năm suốt tháng chỉ làm điều lành thì có tin nhân quả không? Họ sẽ tin, vì biết rằng mình làm những điều lành này, một ngày nào đó sẽ có phần thưởng. Phẩn thưởng đó không phải được ban phát từ một thần linh, một ông trời hay một thượng đế nào cả mà là từ nguyên lý tự nhiên của vũ trụ, sự công bằng tự nhiên của vũ trụ. Thần Thánh là có thật, nhưng chỉ là người quan sát và sắp xếp chứ Thần Thánh cũng phải tuân theo luật Nhân Quả.

Ví dụ, chúng ta đến một ngôi đền hay phủ để lễ lạy Thần Thánh, đó là những lúc mà chúng ta dễ bị sai lầm vì cứ tưởng là các Ngài ban cho điều lành. Thực ra, nếu được tiếp xúc, được nói chuyện với các Ngài, chúng ta sẽ biết là các Ngài không hề ban điều lành cho con người mà chỉ quan sát xem con người làm được bao nhiêu điều lành để mang lại điều may mắn đến cho họ. Nghĩa là các Ngài cũng chỉ là công cụ của nhân quả mà thôi.

Các Ngài cũng giống như một ông quan trong cõi siêu hình. Khi người tốt đến cầu xin thì ban cho; người xấu đến sẽ không được toại ý, vì người này chưa biết tu, chưa giúp ai được điều gì mà tới cầu xin là chưa được. Các Ngài cũng chỉ là người phán xét, sắp xếp theo nhân quả, tội phúc, chứ không phải tự ý ban phát. Thế nên, chúng ta không cần phải ra sức cầu nguyện mà chỉ cố gắng làm thật nhiều điều tốt thì sẽ được linh ứng.

Khi đến lễ lạy ở một ngôi đền hay phủ nào, chúng ta phải biết rõ xuất xứ của các vị Thần nơi đó, chứ không phải đền phủ nào ta cũng lạy. Nếu không để ý điều này thì có nghĩa là ta đã phản bội Đức Phật. Vì khi quy y Phật, chúng ta được dặn dò là từ nay không được mê tín, không được quy y tà, thần, quỷ, vật. Sự tôn kính của chúng ta chỉ dành cho Đấng Giác Ngộ, cho đạo lý đưa đến giải thoát, nghĩa là chúng ta không cúi đầu, không quỳ xuống trước quyền uy mà chỉ cúi đầu kính phục trước đạo lý, đạo đức và sự giác ngộ mà thôi. Ví dụ, khi nghe nói một vị thần nào đó đầy quyền uy có thể ban phúc giáng họa cho con người... nhưng chúng ta không hề sợ hãi cũng không đến quỳ lạy. Ngược lại, nếu có người không hề có phép thuật mà có đạo đức, đạo lý thì chúng ta chấp nhận quỳ xuống trước người đó. Người đệ tử Phật phải gan dạ như vậy.

Trong tín ngưỡng dần gian để lại, chúng ta tôn trọng văn hóa của tổ tiên nên có thể đến viếng đền, phủ nhưng phải biết xuất xứ của vị đang được thờ. Chúng ta phải biết rõ vị đó đã linh hiển điều gì, đã làm được công trạng gì cho đất nước, cho tổ tiên từ ngàn xưa? Biết chắc điều đó, chúng ta sẽ đến thắp một nén hương để bày tỏ lòng biết ơn. Như chúng ta đến thắp hương nơi đền Đức Thánh Trần, biết rõ đây là vị có công giữ gìn đất nước, giúp đất nước tránh được nạn ngoại xâm, đồng thời là một vị tu hành nghiêm túc trong đạo Phật nên chúng ta kính viếng, lễ lạy.

Không ai thoát được ra ngoài luật Nhân Quả. Nếu ai nói “tôi tu là thoát luật Nhân Quả” thì người này rơi vào tà kiến, hiểu sai về đạo Phật. Người tu hành chân chính là người hiểu rõ nhân quả và tạo được những nhân lành như ý muốn. Đó là người sống rất đúng, rất đẹp. Còn những người muốn tránh luật Nhân Quả, đóng cửa tu hành và nghĩ rằng không bị nhân quả chi phối thì họ càng tu càng đi vào tà đạo.

Người tu hành hiền lành, suốt ngày vừa tu sửa tâm vừa phụng sự cho cuộc đời, người đó tu lâu sẽ thành Thánh, vì đi đúng nhân đúng quả. Quan trọng là biết nhân nào ra quả nào chứ không phải tu để cải số, mà tu để biết nhân quả, để gieo những nhân chính xác và gặt được những quả chính xác.