Luật Nhân Quả Liên Quan Đến Nhiều Kiếp Sống
Trích từ Nhân quả công bằngKhoảng 18 phút đọc

Trong cuộc sống có nhiều quả báo không đủ điều kiện để xuất hiện trong kiếp hiện tại mà phải kéo dài qua nhiều kiếp khác. Như ở phần trên chúng ta có nói đến một trường hợp giết cha, mất mẹ khiến con cái bị mổ côi nhưng tên tội phạm trong kiếp này không bi mồ côi. Quả báo mồ côi đó, tên tội phạm sẽ phải trả ở kiếp khác. Hoặc là kiếp này mình hay lừa đảo làm người khác thất vọng. Nhưng hiện tại, phước còn, mình quá thành công nên không ai lừa được thì phải sang kiếp sau mình mới bị lừa đảo lại. Hoặc là kiếp này mình giúp cho rất nhiều người sáng mắt, người tàn tật có xe lăn để đi. Kiếp này mình đâu có tàn tật để người ta cho xe lăn nhưng mà kiếp sau... sẽ được đền bù. Nhưng đền bù như thế nào? Khi thấy người tàn tật mình đi mua xe lăn tặng người ta, thì nhân quả ra sao? Nhân quả ở chỗ người ta di chuyển khó khăn, mình giúp người ta di chuyển, đi lại được dễ dàng, qua kiếp sau mình có đôi chân khỏe mạnh, có phương tiện đi lại dễ dàng. Vì vậy có những nhân chúng ta tưởng là tầm thường, nhưng tới lúc quả báo trổ ra muôn ngàn lần nhiều hơn như thế.
Trong đạo Phật có thêm một khái niệm khác là Luân Hổi. Khi chúng ta chấm dứt đời sống ở kiếp này thì chưa phải là hết, chúng ta sẽ đầu thai ở kiếp khác. Do đó còn định luật liên quan đến luật Nhân Quả nữa đó là luân hồi. Luân hổi là sự tái sinh từ kiếp này qua kiếp khác.
Tuy nhiên luân hồi không đơn giản là mình vừa chết kiếp này thì lập tức đầu thai sang kiếp khác ngay. Khi chết, linh hồn thần thức của chúng ta tồn tại trong cõi siêu hình một thời gian. Rối sau đó đủ nhân đủ duyên, có cha có mẹ rồi chúng ta mới sinh vào gia đình đó để tái sinh ở một kiếp khác. Chưa đủ duyên đúng cha đúng mẹ thì mình không đầu thai.
Ví dụ, trong đời trước mình gieo nhân lành và đời sau mình được phước có cha mẹ giàu sang. Mẹ rất đẹp để mình hưởng được gen đẹp, cha rất giỏi và có quyền chức, mình sinh làm con trưởng và sau đó có một đứa em. Trong gia đình cha mẹ có dòng họ đông, nhưng cha mình lại là con trưởng. Tức là nhân quả mình đã gieo quy định như thế rồi thì phải đợi đúng nhân quả đó mình mới đầu thai. Có thể thấy, không phải ta chết đi là được đầu thai ngay mà phải đợi nhiều năm, có khi cả trăm năm. Trong suốt thời gian đó, ta là một thần thức uy đức, có nhà ở, có đền phủ được người ta thờ cúng. Đến khi nhân duyên phù hợp là có đôi trai tài gái sắc gặp nhau, thương yêu nhau rồi làm đám cưới, hai bên dòng tộc giàu sang. Người mẹ cực đẹp, người cha thật giỏi, có quyền có chức, vừa cưới nhau, và bắt đầu có con. Khi ấy, ta mới đến đầu thai vì đúng điều kiện, đúng hoàn cảnh.

Tuy nhiên, cũng có người không biết đã gieo nhân gì trong quá khứ mà đến kiếp này quy định, người này khi vừa sinh ra được ba ngày, người mẹ đem đến bỏ trước cổng chùa, nhà chùa mang vào nuôi, lớn lên đi tu. Trong trường hợp này cũng vậy, nhân quả đã quy định rồi thì phải chờ đúng trường hợp có cô gái nhẹ dạ bị một người đàn ông dụ dỗ. Cô có mang và vì nhục nhã với làng xóm, với cha mẹ nên đã bỏ nhà trốn đi nơi khác. Khi sinh con thì nhờ những người xung quanh giúp đỡ, và mặc dù rất thương con nhưng cô không thể cưu mang đem về quê nuôi dạy được. Cho nên, mới sinh được ba ngày cô đành phải gửi con trước cổng chùa. Nhân quả quy định như thế và đợi bao nhiêu điều kiện ghép lại thì sự việc mới xảy ra.
Khi chờ đợi đầu thai thì thần thức ở tạm trong cõi siêu hình (ông bà ta gọi là linh hồn, còn đạo Phật gọi là thần thức). Theo nhân quả, thần thức phải đợi đủ điều kiện mới đầu thai lại, còn chưa đến lúc thì theo nghiệp vẫn có chỗ ở thích hợp. Linh hồn nào tội lỗi quá nặng thì chịu phạt dưới địa ngục, ít hơn thì làm một loài ma đói lang thang vất vưởng. Nghĩa là người này khi chết rồi không ai cúng cho ăn, không có chỗ ở đàng hoàng, phải ở ngoài đồng hoặc nơi bụi cây, nếu có ông nào nhậu đi ngang tới đó ói xuống thì mới ăn đỡ thức ăn đó chứ không có thức ăn đàng hoàng. Đến ngày lễ Vu Lan, chùa cúng thí thực thì phải giành giật thức ăn với các con ma đói khác. Mặc dù chỉ là một linh hồn phất phơ vất vưởng, mờ mờ ảo ảo, không có dạ dày nhưng vẫn bị cảm giác đói khát dày vò quanh năm suốt tháng. Đó là loài ma đói, tuy nhẹ tội hơn những chúng sinh bị đọa địa ngục nhưng vẫn là tội. Những loài này khi đầu thai lên ít được làm người mà chỉ làm súc sinh như chó, gà... Nếu linh hồn có phước hơn thì được nơi ăn chốn ở đàng hoàng, được con cháu thờ cúng trong nhà, hoặc được thờ trong các nhà linh, nhà cốt trong chùa. Ở đó, mỗi ngày nhà chùa cúng cơm cho ăn, tụng Kinh cho nghe. Trong khi chờ đợi đầu thai, nếu biết tu về chùa công quả, giữ chùa... thì cũng có phước.

Như lúc còn sống ta hay đến chùa nghe Pháp, phụ việc chùa mỗi ngày, mỗi tuần hay nửa tháng vào ngày sám hối... Những việc mà ta đã làm tạo nhiều phước nên nhân quả quy định ta phải đầu thai vào nhà giàu sang. Khi duyên chưa đến thì sau khi chết ta về chùa ở, bài vị được đặt trong nhà linh, không bị đói, ngày ngày được nghe Kinh tụng,... Mặc dù không ai thấy nhưng linh hồn ta vẫn đi lại trong chùa, canh giữ không cho ăn trộm. Ta có thể tác động vào tâm người khác khiến họ trở nên hiền lành mà không phá chùa (vì người chết tác động vào người sống bằng tâm). Người sống nếu thấy mấy đứa nhỏ đùa giỡn lớn tiếng, có thể đến nói: “Đừng giỡn con” để giữ cho chùa được yên tĩnh. Nhưng người âm họ không nói bằng lời cho trẻ nghe mà tác động thẳng vào tâm. Đứa bé đến chùa muốn nghịch ngợm, bỗng nhiên trong tâm nó xuất hiện ý nghĩ chùa là nơi thanh tịnh, không nên nghịch phá, và nó cứ tưởng đó là ý nghĩ của mình, nào ngờ lại là ý nghĩ của vong linh thờ trong chùa. Những vong đó giữ chùa và tiếp tục tạo phước như vậy cho đến khi đủ cha đủ mẹ giàu sang, đúng nhân đúng quả của mình mới rời chùa ra đi vào nhà đó đầu thai. Làm con trong gia đình giàu sang, vừa lớn lên lại đến chùa tiếp tục làm phước và tu tập.
Những người có công với đất nước như những vị quan tướng, những cán bộ lãnh đạo hết lòng vì dân vì nước, không nhận hối lộ, không tham những. Khi về các làng quê thấy đường sá giao thông khó đi lại, những con sông rộng không có cầu bắc qua, người dân, trẻ em phải chèo đò qua sông khi sống to gió lớn gây hiểm nguy đến tính mạng... liền tự trách, tự kiểm điểm bản thân mình. Họ quyết định cho dựng đường sá, cầu cống... thật tốt để mọi người đi lại dễ dàng, nhằm làm hạn chế những cái chết thương tâm không đáng có. Những người làm cán bộ biết lo cho dân, đời sau nhân quả sẽ được sinh vào nơi cực kỳ quyền quý, được ăn học thành tài và tiếp tục làm lãnh đạo. Nhưng trong thời gian chờ đợi đủ nhân duyên để tái sinh thì sẽ làm vị thần quyền uy, có đền có phủ, có lính hầu hạ ở trong cõi siêu hình. Ngày xưa, những vị quan lớn, những vị tướng có công lớn với đất nước khi chết đều được làm thần, có khi được chúng ta làm đền thờ nghiêm trang. Ngày nay cũng không khác, những vị tướng, vị quan có công với đất nước khi chết đi các vị cũng đang ở một chỗ nào đó có đền phủ, có quyền uy hiển hách và có lính phục vụ, đến lúc đủ duyên đầu thai lại thì nhân quả sẽ tiếp tục lớn hơn.

Đối với những vị suốt cuộc đời tu hành, tâm hồn cực kỳ đạo đức thánh thiện và làm vô số điêu phước cho mọi người, khi chết sẽ sinh lên cõi trời, một cõi chỉ có niềm vui và hạnh phúc. Trong cõi trời người ta sống với nhau bằng tâm, không bằng lời nói, người này biết tâm ý người kia và đều sống rất chân thật, rất hạnh phúc, rất tử tế. Người cõi trời ưa muốn điều gì thì điều đó lập tức được đáp ứng. Ví dụ như các chư thiên thích ở vùng núi, lập tức cảnh núi rừng hiện ra cho họ ở. Hoặc họ thích ở lâu đài, thích có quần áo đẹp... thì lâu đài, quần áo đẹp liền hiện ra. Nghĩa là, bất cứ mong muốn nào của họ cũng đều được đáp ứng ngay lập tức. Họ chỉ sống trong tình thương yêu, tất cả là thương yêu.
Người biết tu hành tâm hồn thanh cao thánh thiện, làm nhiều điều tốt lành giúp cuộc đời thì khi thọ mạng hết, chắc chắn họ sẽ được sinh lên cõi trời. Người làm cán bộ tuy có công với dân, với nước nhưng đôi khi còn nóng nảy nên khi chết chỉ làm thần chứ không làm Thánh. Nếu người cán bộ nào mà có công với đất nước, với nhân dân, sống hiền lành đạo đức, không bao giờ quát nạt ai một lời, thì khi hết thọ mạng lập tức sẽ được làm Thánh cho đến khi duyên làm người xuất hiện mới đầu thai trở lại.
Đầu thai
Đấu thai là như thế nào? Là khi duyên với cha mẹ đến, thần thức (linh hồn) ngươi con thường hay về nhà đó quấn quýt vui chơi bên cha mẹ mình cho đến khi cha mẹ gần nhau, nhưng chưa đầu thai. Khi tinh trùng của cha vào trong cơ thể của mẹ, thần thức vẫn chưa đầu thai. Cho đến vài tiếng đồng hố sau, tinh trùng của cha kết hợp với noãn trứng của mẹ và biến thành phôi độc lập có sự sống thì lúc đó thần thức liền tan biến. Sự sống của người con bây giờ chính là cái phôi đó. Khi đó, người con sẽ quên hết mọi chuyện quá khứ, bắt đầu cuộc sống mới bằng cái phôi rất nhỏ, mắt thường không nhìn thấy, phải đem soi kính hiển vi mấy ngàn lần lên mới nhìn thấy được mầm phôi. Và con người tái sinh trở lại chính là từ một mầm phôi nhỏ xíu đó. Thần thức lúc trước tan biến mất, và tất cả mọi chuyện cũ đều quên hết.
Ông bà ta thường nói, trước khi đầu thai quỷ sứ bắt ăn cháo lú quên hết kiếp trước nên khi chúng ta sinh ra sẽ không nhớ gì về tiền kiếp. Nhưng thực tế thì không phải như vậy. Sự thực là vì mầm phôi quá nhỏ chưa có bộ não nên không ghi được dữ kiện của kiếp trước khiến chúng ta không nhớ được tiền kiếp. Mầm phôi sẽ lớn dần lên theo nhân quả quy định, như thành người đẹp trai, thông minh, khỏe mạnh... Đến khi đứa con được sinh ra, cha mẹ ngạc nhiên: “ Ô! Con tôi đẹp trai quá”, vài năm sau nữa phát hiện ra con mình quá thông minh, lớn thêm chút nữa trở thành người thanh niên vạm vỡ khỏe mạnh theo đúng quy định của nhân quả.
Ở kiếp sống mới của chúng ta có hai điều: Thứ nhất là nhận quả báo của kiếp trước. Thứ hai là gieo tiếp nghiệp cho kiếp sau. Chúng ta có mặt ở kiếp này là đang nhận quả báo của kiếp trước và đang gây tiếp cái nhân của kiếp sau. Cứ như thế, chúng ta lang thang trong luân hồi vô tận, đầu thai hết kiếp này đến kiếp khác.
Chúng ta thường nghĩ, có thể kiếp trước mình quên tạo phước nên kiếp này hưởng phước không nhiều lắm, và đôi khi ước mơ: “Kiếp này mình tạo phước để kiếp sau được hưởng phước nhiều hơn”. Đó chỉ là cái nhìn rất gần. Khi hiểu thật sâu, chúng ta sẽ thấy con người mãi lang thang trong luân hồi liên tiếp, dù cho kiếp này kiếp kia có giàu sang vinh hiển, thậm chí có làm vua đạt đến tột đỉnh vinh quang đi chăng nữa, mà vẫn phải luân hồi tái sinh hoài thì chúng ta vẫn cảm thấy mệt mỏi vất vả vô cùng.

Đến lúc đó, điều chúng ta mơ ước thật sự là gì? Chúng ta sẽ có mơ ước rất chính đáng, rất đúng nghĩa, là làm sao để dừng lại sự luân hồi tái sinh này, và thật sự giải thoát. Dù có sinh ra làm quan làm tướng mà vẫn phải đấu tranh, vất vả, tính toán nên rất dễ tạo nghiệp. Bởi vì khi làm tướng thì quyền uy của mình ảnh hưởng trên nhiều người. Chỉ cần một chút nóng giận là tạo nghiệp khủng khiếp; chỉ cần ra một đạo luật sai là bao nhiêu người đau khổ. Thật vất vả chứ chẳng sung sướng gì! Nên cuối cùng, chúng ta muốn một ngày nào đó dừng luân hồi này lại, không tái sinh nữa. Và trong cõi giải thoát đó, chúng ta gia hộ cho chúng sanh biết làm điều thiện, biết tránh điều ác, tạo được phước lành, thăng tiến trên sự luân hồi và cuối cùng cũng chấm dứt luôn luân hồi sinh tử, đó là ước mơ cao đẹp nhất.
Kính lạy mười phương Phật, vô lượng kiếp luân hối, đắng cay và mỏi mệt.
Nay con dâng lời nguyện, giải thoát quyết tìm về, giác ngộ quyết lìa mê, độ sinh đền ơn Phật.
Mơ ước gần, chúng ta chỉ cầu phước cho kiếp sau và ráng làm phước. Nhưng khi đã hiểu sâu chúng ta sẽ nghĩ rằng: “Sống trên đời, đúng là phải tạo phước, không thể khác. Nhưng có phước đến mức được làm tướng mà cũng vẫn mệt mỏi vất vả, sơ suất một chút là tạo tội, thì thôi, ta nên dừng lại”. Đây chính là mục tiêu của đạo Phật. Mục tiêu của đạo Phật là chúng ta đi tìm con đường tu hành để dừng lại luân hồi tái sinh và thật sự giải thoát.
Để đạt được mục tiêu này, chúng ta phải có sức mạnh của sự tu hành tầm linh để không bị tái sinh. Khi không còn luân hồi tái sinh, ta trở thành một vị Thánh siêu việt, gia hộ cho chúng sanh để chúng sanh tu hành tiếp như mình. Chỗ không có luân hồi tái sinh, chỗ giải thoát an vui tuyệt đỗi, đạo Phật gọi là Niết Bàn.
Niết Bàn là cảnh giới cực kỳ thanh tịnh siêu việt không diễn tả bằng lời được nhưng đó là một sự sáng suốt phủ trùm hết cả vũ trụ, đó là tâm thương yêu thấm nhuần hết cả muôn loài. Chúng ta đừng tưởng Niết Bàn là một cái gì trống vắng, hiểu vậy là sai với đạo Phật, là tà kiến mang tội. Chúng ta phải hiểu Niết Bàn mà chư Phật đạt được, chư Thánh Alahán đạt được, không phải là sự trống vắng mà đó là sự sáng suốt phủ trùm hết cả vũ trụ này và đó là tâm thương yêu đại bi phủ trùm hết muôn loài. Chính vì vậy mà mỗi khi chúng ta có việc trở ngại, bế tắc, ta quỳ xuống cầu nguyện Đức Phật với trọn lòng tôn kính thì luôn luôn được linh ứng. Vì Đức Phật trong Niết Bàn vẫn thương yêu, gia hộ cho chúng ta. Ngài không tái sinh nhưng Ngài luôn luôn thương yêu, luôn luôn biết rõ và luôn luôn gia hộ cho tất cả. Nhưng với điều kiện khi chúng ta cầu nguyện làm được một điều gì xong rồi thì phải tạ lễ.
Chúng ta phải tạ lễ như thế nào và bằng cách gì?

Ví dụ ngôi nhà chúng ta đang ở bỗng nhiên bị quy hoạch cắt ngang phải dời đi nơi khác. Vì phước ta kém nên khiến bị một áp lực là tiền đền bù không đủ để dời nhà. Trong lúc bế tắc không biết làm cách nào, ta vào chùa cầu nguyện: “Con tuân thủ luật pháp Nhà nước, nhưng vì tiền đền bù ít quá, con không đủ xây lại căn nhà mới để làm mái ấm gia đình có nơi ăn ở thờ phụng tu hành, kính xin Chư Phật gia hộ cho con”.
Ta cầu nguyện với tâm chân thành tha thiết. Khi về nhà thì tự nhiên có một cán bộ cao cấp đi ngang nơi ta ở, dừng xe lại hỏi han. Nghe người dân than, ông thắc mắc:
Sao đền bù kỳ vậy?
Dạ, tại giá quy định là như thế.
Ông nói:
Quy định mà không đủ để dân dời nhà thì không được, phải tính lại giá đền bù thỏa đáng cho dân, không thể làm như vậy.
Và bỗng nhiên mình thoát nạn, được đền bù thỏa đáng, cất được nhà và đạt được lời cầu nguyện của mình. Khi đã đạt được ước nguyện, ta phải tạ lễ Phật bằng cách làm một điều phước thiện nào đó. Trong khi Nhà nước đang thi công con đường nơi ta ở, ta nên dành một ít ngày công để phụ làm đường để giúp người dân qua lại được dễ dàng. Hoặc thấy anh em công nhân làm đường, mỗi buổi sáng, ta có thể nấu xôi chè cho họ ăn lỡ buổi để có sức làm việc. Ta hãy tạ lễ bằng cách đó, nghĩa là làm điều gì công ích để bù lại những điều mình đã cầu xin. Đây là nhân quả hợp lý. Và như thế, ta cũng hiểu được thế nào là Niết bàn thanh tịnh của chư Phật.
Nguyên lý luân hồi cho chúng ta câu trả lời tại sao số phận nhiều đứa trẻ khi sinh ra đã khác nhau. Tại sao có đứa trẻ sinh ra khỏe mạnh, đứa sinh ra èo uột. Có đứa sinh ra trong gia đình giàu có, đứa sinh ra trong gia đình nghèo khổ. Tại sao có sự bất công như vậy?
Nếu không có nhân quả luân hồi, ta sẽ không có câu trả lời thỏa đáng. Có người nói do ông trời, tức là ai giàu hay nghèo đều do ông trời quy định. Không có ông trời nào bất công, quy định kỳ cục như thế cả.
Nếu là ông trời có quyền uy thương người thì ông phải công bằng, phải thương hết đồng đều, không thể bắt đứa trẻ này sinh trong gia đình nghèo, đứa trẻ kia sinh trong gia đình giàu. Lại có người nói: “Sinh trong gia đình nghèo để nó được rèn luyện - Vậy tại sao rèn luyện đứa trẻ này mà lại không rèn luyện đứa trẻ kia? Vì vậy chúng ta khẳng đinh rằng không hề có một ông trời nào đó bắt trẻ phải sinh thế này, phải sinh thế kia, mà chỉ có luật Nhân Quả công bằng chi phối tất cả. Chính luật Nhân Quả đã khiến đứa bé đó sinh vào gia đình này, chính luật Nhân Quả đã đưa đứa bé kia sinh vào gia đình nọ mà thôi.
Chúng ta không quy trách nhiệm cho một thần linh nào cả trong mọi số phận của mình mà chúng ta quy trách nhiệm cho mỗi con người. Khi có đứa trẻ sinh ra trong gia đình nghèo, chúng ta biết đứa bé đó hơi thiếu phước, hoặc hơi thiếu phước trong giai đoạn đầu. Chúng ta thương nó bằng cách dạy nó biết làm phước từ lúc nhỏ. Dạy trẻ biết thương người, biết giúp người, biết sống chân thật không tham lam, lớn lên cuộc đời đứa trẻ ấy sẽ thay đổi theo chiều hướng tốt. Bây giờ có thể nó học kém, nhưng nếu biết làm phước, siêng năng lễ Phật, quý trọng Tăng Ni, tôn trọng thầy cô, giúp đỡ bạn bè thì tự nhiên vài năm sau nó sẽ học khá hơn, đó là nhân quả. Khi chúng ta biết luật Nhân Quả, chúng ta giúp được cho con cháu mình rất nhiều, chuyển cuộc đời chúng từ hướng xấu rẽ sang hướng khác tốt hơn và cụ thể hơn. Đây là điều ai cũng vui lòng.