Không chấp ý mình
Trích từ Nói với chính mìnhKhoảng 18 phút đọc

Bài học của tỳ-kheo Meghiya
Trong Tiểu Bộ Kinh (Nikaya) có một bài kinh tựa là Meghiya, nói về một thị giả của Đức Phật vì chấp ý mà bị tổn phước.
Vào thời mới đắc đạo, Phật thường lặng lẽ lang thang giáo hóa một mình thay vì đi cùng tăng đoàn, bởi Ngài không muốn hiển lộ thần thông. Có những khi Phật dùng thần thông biến mất nơi này và hiện ra ở nơi kia, mà nếu có đông người, nhất là những vị chưa đắc đạo đi theo thì thật là bất tiện. Đến khi Phật đã lớn tuổi, trong tăng đoàn đã xuất hiện nhiều vị đắc đạo, Phật thường đi cùng tăng đoàn hơn. Những lúc cần qua sông, vì không thuyền bè nào chở hết được cả nghìn vị nên thầy trò đều phải dùng thần thông, các vị biến mất ở bờ sông bên này, hiện ra ở bờ sông bên kia rồi tiếp tục cất bước.
Trong nhà thiền có câu chuyện của Tổ Phần Dương Thiện Chiêu, Ngài là một thiền sư đắc đạo. Một hôm, Ngài họp chúng gồm cả nghìn đệ tử lại, hỏi:
- Ta muốn đi xa, có ai theo ta được chăng?
Hết người này đến người khác đứng lên, nhưng Ngài đều từ chối. Cuối cùng, người thị giả đứng dậy xin theo thì Hòa thượng hỏi:
- Một ngày ông đi được bao nhiêu dặm đường?
- Bạch Hòa thượng, Hòa thượng đi đến đâu, con đi theo đến đó.
- Ngươi theo ta được. Thôi ta đi trước.
Thế là Ngài đứng ngay đó tịch, lập tức vị thị giả chắp tay đứng bên cạnh thấy tịch theo. Ngài Phần Dương nói “muốn đi xa” tức là muốn tịch mà không ai hiểu, chỉ có người thị giả vì cũng đắc đạo nên mới hiểu thầy mình. Đó là câu chuyện về thầy trò tương ưng.
Vào thời Đức Phật cũng vậy, khi tăng đoàn chưa có nhiều vị đắc đạo thì Phật không mang nhiều chư tăng theo trong những lần du hóa. Có một mùa mưa, Phật muốn lên ngọn núi cao Vediya trong hang đá Indasala để an cư, và chỉ một mình thị giả Meghiya theo hầu. Lúc này Meghiya vẫn chưa đắc đạo.
Đức Phật và thị giả ra khỏi thành Vương xá, và đi ngang qua khu vườn xoài xum xuê tuyệt đẹp của kỹ nữ Ambapali. Nơi đó có hồ nước trong veo, có dòng suối vắt ngang,... cảnh trí nên thơ và thanh tịnh quá khiến thị giả Meghiya động tâm muốn được ở lại khu vườn xoài khả ái để ẩn tu.
Hai thầy trò tới núi Mankula, đi sâu vào trong rừng già, đường dốc dần và khó đi. Thị giả Meghiya đứng lại đặt bát của Phật lên hòn đá bên dốc núi.
- Bạch Thế Tôn, con muốn được lui về an cư tại rừng xoài của Ambapali. Xin Thế Tôn hãy tự bảo trọng.
- Này Meghiya, ông nghĩ sao khi để Như Lai an cư một mình ở đây?
- Bạch Thế Tôn, con muốn được an cư tại rừng xoài khả ái của Ambapali. Xin Thế Tôn hãy tự bảo trọng.
Rồi thị giả Meghiya lễ Phật ba lễ và ôm bát của mình đi xuống dốc núi. (Trong khi mình ước chỉ được là hạt bụi dưới chân Phật thôi cũng thấy hạnh phúc rồi, vậy mà ông nỡ bỏ Phật một mình không người chăm sóc.)

Ông về trú nơi khu rừng xoài, dưới những gốc cây như ước nguyện. Nhưng rồi ông ngồi thiền không được, bắt chân lên là tâm động loạn, những tư tưởng ác độc, dâm dục, thù ghét ồ ạt kéo tới. Thật lạ là từ khi xuất gia ông không hề có những vọng tưởng này, nhưng tại sao khi quyết tâm tinh tấn nơi một khu rừng với cảnh trí khả ái như thế thì những dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng, ác tưởng lại khởi lên trập trùng? Sau mấy tháng an cư mà không điều phục được tâm, đau khổ vì tâm quá loạn động, ông đành thất thểu ôm bát về gặp Phật:
- Bạch Thế Tôn, con không biết tại sao khi về vườn xoài tá túc an cư, con vất vả hành thiền, vất vả giữ tâm nhưng luôn luôn thất niệm? Con dường như kiệt sức vì tâm loạn. Bây giờ con đã hiểu ra rằng nếu chưa đủ công đức thiện nghiệp thì không ai có thể nhiếp tân chánh niệm được. Nay con xin thành tâm sám hối.
Lúc đó Đức Phật mới dạy: Muốn tiến tu thì phải có năm pháp hỗ trợ tu tập.
Thế nào là năm pháp?
Thứ nhất phải gần bậc minh sư thiện hữu.
Thứ hai phải giữ giới, thấy sự nguy hiểm trong từng lỗi nhỏ nhặt.
Thứ ba, phải thường nghe nói về những điều đạo lý cao đẹp.
Thứ tư, phải thanh lọc nội tâm để được đạo đức thuần thiện (Bởi nội tâm thuần thiện là nền tảng rất lớn để nhiếp tâm vào định: người có đạo đức mới có thể nhận định được và người nhập được định chắc chắn phải là người có đạo đức).
Thứ năm, phải có trí tuệ để khéo léo dụng công tu hành.
Phật dạy thêm bốn phép quán để đối trị với bốn loại bệnh của tâm:
Thứ nhất là quán Bất tịnh để diệt tham dục.
Thứ hai là quán Từ bi để diệt sân hận.
Thứ ba là quán Hơi thở để diệt động loạn của tâm.
Thứ tư là quán Vô thường, Vô ngã để diệt trừ kiêu mạn chấp ngã.
Rồi Đức Phật nói bài kệ:
Nhiều vọng tưởng thầm kín
Chi phối cả tâm hồn
Khiến trầm luân vô tận
Vì không biết rõ chúng.
Hãy biết rõ về chúng
Dùng Chánh niệm tinh cần
Để diệt trừ chế ngự
Những vọng tưởng sâu xa
Như bậc Chánh Đẳng Giác
Chẳng vọng tưởng mảy may.
Sau này tôn giả Meghiya tu theo Phật lâu ngày rồi cũng đắc đạo, nhưng đây là sự kiện xảy ra là khi còn là thị giả theo hầu Phật, đã có lúc Ngài bỏ Phật đi như vậy. Chúng ta sẽ phân tích bài kệ trên để thấy cái lỗi của tôn giả Meghiya khi ấy, từ đó rút ra bài học cho chính mình.
Lỗi đầu tiên của thị giả Meghiya là lòng thương kính Phật không sâu đậm. Thời gian, không gian không phải là sự ngăn ngại mà chính cái tâm con người mới là rào cản lớn nhất. Nếu người hời hợt thì dù có ở trước Phật nhưng thực sự cũng cách Phật rất xa. Thế nên, dù đã cách Phật hơn 2500 năm, nhưng nếu ta đủ lòng thành kính thì Phật lúc nào cũng đang ở bên ta, cảm ứng, thương yêu ta ngập tràn.

Tại sao vào thời mạt pháp này số người đắc đạo rất hiếm hoi? Cũng vì cách Phật quá xa. Sau mấy nghìn năm, lòng người đã phai bạc, chúng sinh còn không đủ lòng thành kính nên thiếu sự cảm ứng, gia hộ. Còn nếu ai ngập tràn lòng kính ngưỡng, tinh cần thực hành lời Phật dạy thì thật sự Phật đang ở bên cạnh, đang gia hộ dìu dắt người đó trên từng bước đường tu tập.
Đừng nghĩ rằng ta cứ niệm danh hiệu Phật, cứ gọi tên Phật mãi mà xuất hiện sự cảm ứng. Chính việc thực hành lời Phật dạy mới làm cho sự cảm ứng với Phật là vô biên. Ta ngồi kiết già, biết rõ toàn thân, quán thân vô thường, theo dõi hơi thở, từng hơi thở vào, từng hơi thở ra tràn đầy niềm tôn kính Phật... thì dù đã hơn 2500 năm nhưng vẫn như Phật tại tiền, Phật bên ta trong từng hơi thở nhiệm mầu. Cho nên, với người đủ lòng thành kính thì ta không nói là “thời mạt pháp cách Phật đã xa” nữa, còn với người hời hợt thì mười ngày xa Phật thôi cũng là xa vời vợi rồi. Cái tâm mới là quan trọng, còn lại thời gian, không gian không quan trọng.
Tỳ kheo Meghiya là một thị giả của Đức Phật, tuy ở bên cạnh Phật mà lòng yêu kính với thầy mình lại nhạt nhẽo. Đó là cái lỗi chính của ông, nên khi gặp một cảnh rừng xinh đẹp ông liền ra đi, bỏ Phật lại một mình. Đọc đoạn kinh này ta không khỏi xót xa, trong khi mình chỉ “mãi mãi xin được làm hạt bụi, nơi dấu chân Phật cất bước đi qua...”, còn ông ở bên cạnh Phật mà không đủ niềm tôn kính nên mới bỏ Phật đi, cứ nghĩ rằng mình tinh tấn rồi sẽ đắc đạo, đâu ngờ là chẳng được gì cả. Sự hời hợt đó khiến ông bị tổn phước và cảm thấy kiệt sức vì tâm loạn.
Chúng ta đều biết rằng, giai đoạn mới tập tọa thiền là một cực hình: chân bị đau, bị tê, thân không được nhúc nhích dù ngứa ngáy, tâm thì lao xao loạn động... Nhưng khi tâm bắt đầu tính sáng rồi thì thiền là một hạnh phúc không gì so sánh được, và toàn bộ quan điểm sống của ta thay đổi. Ví dụ, trước đây ta ít thương người, nhưng một khi tâm đã tỉnh sáng thanh tịnh, tự nhiên ta nhìn con người mà tình thương tràn ngập. Hoặc trước đây ta khinh người dở kém, nghèo khó hơn mình, nhưng một khi tâm đã tỉnh sáng, lập tức ta thấy mình và mọi người như nhau, yêu thương, tôn trọng được con người. Hoặc trước đây ta còn ham mê vật chất, nhưng một khi tâm tỉnh sáng, ta nhìn thấy rừng núi mênh mông, đất đai trập trùng như gió bụi bay đi không có gì để đắm luyến. Sự từ bi, bình đẳng, buông xả... và vô số đạo đức khác tự nhiên lấp đầy tâm hồn ta.

Người đã chuyển biến được tâm linh, sống yêu thương chúng sinh, không ham muốn điều gì trên đời nữa, đạo đức ngày càng sáng như vậy, họ tin chắc rằng thiền định là con đường đi đến tâm linh bất diệt. Niềm tin đó vững chắc vô cùng, là sức mạnh cho người ta cứ tinh tấn dũng mãnh vượt qua bao khó khăn mà tu tập. Từ xưa đến nay, bao nhiêu người đã thành tựu được thiền định và dần trở thành những vị thánh vượt khỏi thế trần là nhờ vậy.
Từ khi xuất gia theo Phật, dù Meghiya chưa đắc đạo nhưng vẫn có con đường để đi, tâm linh có mở ra, có sự tỉnh giác, niềm an lạc trong thiền định. Tuy có chút tỉnh sáng như thế nhưng chưa đủ sâu, cho nên ông đã chấp ý mình và bỏ đi, để lại Phật một mình. Cái chấp ý làm ông bị mất phước, mà khi cái phước hao tổn rồi thì tâm loạn lên liền, những ý niệm xấu trập trùng vây bủa.
Điều xấu ác khởi lên trong tâm có khi không phải do ta, mà do phước của ta đã bị tổn. Ví dụ đang đi trên đường, mắt ta chợt lướt thấy có người nằm sõng soài bên vệ cỏ, ta liền nghĩ, chắc là say xỉn rồi nằm lăn trên đường, hoặc khỏe mạnh mà giả vờ xin ăn... trong khi người kia ngã vì một cơn đau bất ngờ thật. Đánglẽ phải đến đỡ họ dậy, hỏi han, tìm cách giúp đỡ thì ngay lập tức ta đã nghĩ xấu cho người, có khi lẫn cái khinh thường, cái sợ liên lụy nữa. Điều đó khiến cho phước ta bị giảm, đức ta bị tổn, rồi những ý nghĩ bất thiện nối tiếp nhau xuất hiện, càng làm ta tổn phước nhiều thêm nữa.
Cũng vậy, nếu tâm ta khởi lên những điều thiện lành thì cũng không phải do mình tốt, mà là do mình vừa tạo phước ở đâu đó, ví dụ ta vừa lễ kính Phật, vừa phóng sinh, vừa bố thí hay vừa khởi được tâm thương người. Những phước đó đều xây dựng lại tâm hồn, khiến những ý niệm thiện lành đâm chồi trên mảnh đất tâm ta. Nên những điều phước hay tội mà ta đã gây tạo đều có tác động trở lại vào nội tâm cả. Đó là sự hỗ trợ qua lại giữa thân nghiệp và ý nghiệp.
Khi Meghiya rời Phật đi, tức là bỏ dang dở công đức đang làm, tâm ông liền trở nên loạn động. Từ lúc xuất gia theo Phật, ông tu hành rất ổn định, lòng không vương vấn thế gian, chẳng động tâm ái luyến. Vậy mà khi quyết tâm về khu rừng để độc cư tinh tấn thì ông lại bị vọng tưởng quấy nhiễu không yên, những ác tưởng, dục tưởng, sân tưởng ồ ạt kéo đến. Ông hoảng loạn vì những ý nghĩ sai quấy của mình nhưng không truy được chúng từ đâu mà đến. Qua vài tháng an cư, không chịu nổi nữa ông đành phải quay về gặp Phật sám hối. Sau khi được Phật dạy dỗ ông mới phục hồi lại cái phước, và mãi rất lâu sau mới đắc đạo.

Đức Phật là bậc thầy của cả Trời người, cuộc sống thanh tịnh như hư vô mà thế gian này không ai so sánh được. Tỳ kheo Meghiya khi mắc bệnh chấp ý thì khăng khăng không chịu lắng nghe ai, sự cố chấp lên đến đỉnh điểm rồi thì không nghe lời kể cả Đức Phật. Vì thấy trước cái tổn phước của Meghiya khi bỏ dở công đức hầu Phật nên Người không chấp thuận cho ông rời đi. Phật nói: “Này Meghiya, lúc này chỉ có hai thầy trò, hãy đợi có thêm một tỳ kheo nữa đến rồi hãy đi”. Có phải vì Phật không muốn cô đơn, sợ đệ tử bỏ đi rồi không ai lo lắng cho mình chăng?
Tâm của Phật không phải tâm suy nghĩ
Không mảy may vị kỷ của riêng mình
Lòng vị tha ôm ấp hết chúng sinh
Cả pháp giới chính là tình thương lớn.
Thực ra Đức Phật thường xuyên ở một mình, Ngài thích ở một mình. Nhưng Phật muốn cho Meghiya có tinh thần trách nhiệm với thầy mình, bởi điều này tạo thành cái phước, mà phải có phước thì mới tiến tu được. Như chư tôn đức, chư Hòa thượng vẫn có thể tự chăm sóc cho mình, tự mắc màn, nấu cơm được... nhưng các Ngài vẫn để cho đệ tử làm những việc này, vì các Ngài muốn đệ tử tích lũy được cái phước cho sâu dày.
Ngang đây chúng ta nhớ lại câu chuyện của tôn giả Đại Ca Diếp. Có lần Ngài bị bệnh nhưng không dùng thuốc mà lặng lẽ nhập định luôn bảy ngày. Đến ngày thứ bảy Ngài xuất định, căn bệnh cũng chấm dứt và sẽ đi khất thực trở lại. “Một vị đại A-la-hán đã xuất định sau 7 ngày và sắp đi khất thực” – tin này làm lao xao cả các tầng Trời. Nhiều chư Thiên đã mang thức ăn cõi Trời xuống trần gian đứng sẵn đợi Ngài đi qua mà cúng dường. Nhưng tôn giả Đại Ca Diếp lặng lẽ tránh hết những con đường có chư Thiên, tìm con đường khác dẫn vào những xóm nghèo. Ngài có điều lạ là thường thích nhận thức ăn cúng dường của người nghèo để họ được phước.
Lần này vua trời Đế Thích rất khôn ngoan. Ông hiện thân nhỏ lại bằng thân con người, khoác manh áo xác xơ tơi tả, mang thức ăn đợi sẵn trong xóm nghèo kia chắp tay đợi tôn giả. Khi ấy, mặc dù ông đã ngụy trang khéo léo nhưng vừa đến gần là bị Ngài Đại Ca Diếp phát hiện ngay:
- Chà, chúng sinh này có đầy uy lực.
Rồi Ngài quở:
- Này Thiên chủ Đế Thích, tại sao người lại tranh phần công đức của các chúng sinh ở cõi người này?
Vua trời Đế Thích khẩn khoản:
- Xin tôn giả hãy hoan hỷ cho con, xin tôn giả hãy hoan hỷ cho con. Chính nhờ cúng dường được cho tôn giả như thế này mà con mới đủ phước để làm được vua cõi Trời, mới có thể điều động được ba nghìn thế giới như thế...
Vì ông quá tha thiết, Ngài đành chấp nhận thức ăn cúng dường của ông.

Cho nên, những vị thánh là thế, các vị nhận sự cúng dường không phải vì mình mà là vì cái phước cho chúng sinh. Đức Phật cũng vậy. Khi Meghiya khăng khăng xin được độc cư tu hành, Phật đã nói: “Này Meghiya, hãy đợi đến khi có một tỳ kheo khác đến rồi ông hãy đi”, tức là Ngài muốn Megiya có tinh thần trách nhiệm với thấy mình để ông còn cái phước, nhưng vì Meghiya quá chấp ý nên Phật đành cho ông rời đi.
Chấp ý - căn bệnh lớn của chúng sinh
Căn bệnh của thị giả Meghiya khi xưa cũng là bệnh của tất cả chúng ta hôm nay. Tất cả chúng ta đều vướng vào lỗi chấp ý mình, hễ suy nghĩ điều gì ta liền cho đó là chân lý, còn ý của người khác là sai, kể cả thầy mình. Chỉ những người đệ tử tu tập vững vàng thì mới nói được: “Tôi không có ý kiến nào của riêng mình nữa. Thầy dạy sao tôi làm như thế, không có gì phải thắc mắc cả”. Còn đa phần chúng ta đều thích làm theo ý mình, có khi được thầy rầy la quả phạt, ta “dạ dạ, vâng vâng” đấy nhưng vẫn âm thầm chống trái, hoặc trong tâm hoặc ra hành động, lời nói bên ngoài. Mà tỳ kheo Meghiya ngày xưa đã tổn phước đến mức loạn tâm cũng là vì cái chấp ý này. Chúng ta hãy nhìn vào bài học đó mà cảnh giác cho chính mình. Nghĩ ra điều gì đừng tin đây là chân lý, bằng không, ta rơi đúng vào cái lỗi của tỳ kheo Meghiya và không tránh khỏi hao tổn phước đức.
Người có trí tuệ lúc nào cũng nghi ngờ từng ý nghĩ của mình vì biết rằng mình còn là phàm phu, chưa phải bậc thanh tuyệt đối. Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, Đức Phật đã dạy rằng: “Nhữ ý bất khả tín” (đừng bao giờ tin ý của mình) khi chưa chứng A-la-hán. Như vậy, chừng nào chưa chứng A-la-hán thì chừng đó ta còn phải nghi ngờ, dè dặt với tất cả suy nghĩ, ý muốn của mình.
Chẳng hạn, có người bạn đến rủ đi chùa, ta nghĩ: “Đi chùa cũng tốt”. Nhưng nhằm lúc hoàn cảnh không thuận tiện thì hãy xét lại, nếu cứ gượng đi thì lại không hay, để hôm sau đi sẽ hay hơn. Hoặc gia đình hàng xóm có người vừa mới mất, họ cần ta sang góp ý, hỗ trợ tang lễ. Nhưng ta vẫn bỏ qua để đi chùa cả ngày, đến tối khi ta tìm sang thì nhà bên kia đã nghi ngờ chùa, nghi ngờ những người Phật tử một chút rồi, vì thấy người láng giềng của mình đành đoạn bỏ đi trong khi cha mẹ họ vừa mới mất, gia đình họ cần sự giúp đỡ. Nếu khi ấy ta đừng chấp ý, dẹp cái ý thích của mình lại để sang phụ gia đình láng giềng thì sự tình nhiều khi đã đẹp hơn.
Cho nên, trên đời luôn có những việc thấy như là thiện, là đúng nhưng không ngờ vẫn sai. Hãy cảnh giác với mọi ý nghĩ của mình là vì vậy. Như tỳ kheo Meghiya cũng từng nghĩ: “Phật thường dạy chúng con độc cư tinh tấn tọa thiền trong rừng vắng, trong hang sâu... Bây giờ có một khu rừng xoài đẹp như thế, con muốn độc cư và tinh tấn theo lời Phật dạy như thế, vậy là hay chứ?”. Nghe thì hay nhưng vẫn sai, vì đã bỏ Phật lại một mình, đó là thái độ vô trách nhiệm. Hơn nữa tình thầy trò của ông chẳng đậm sâu – đây mới là cái sai lớn. Tu thì vẫn còn thời gian để tu nhưng còn được hầu Phật, được ở bên Phật ngày nào là sự thiêng liêng lớn lao ngày đó.
Meghiya khi ấy quá bướng bỉnh, chấp ý mình đến nỗi Phật cản ngăn ba lần vẫn không được, đành để ông đi. Khi rời Phật rồi ông mới hoảng sợ thấy đúng là mình mất phước ngay, tâm loạn lên liền, những ý nghĩ về dâm dục, giận hờn, thù ghét, giết hại như ngọn lửa thiêu đốt khiến ông vô cùng đau khổ, bức bối. Mà nếu những tâm niệm đó mạnh lên, thúc đẩy thành hành động thì sẽ đưa ông xuống địa ngục, súc sinh chứ không đơn giản. Sau mấy tháng trời không nhiếp phục được tâm, cuối cùng Meghiya đành quay trở về sám hối với Phật.