Bỏ qua, đến nội dung chính
Về chủ đề Đạo đức

Lợi Ích Của Việc Tin, Hiểu Và Ứng Dụng Được Luật Nhân Quả

Trích từ Nhân quả công bằngKhoảng 36 phút đọc

Lợi Ích Của Việc Tin, Hiểu Và Ứng Dụng Được Luật Nhân Quả

Kiềm chế bản thân - Hoàn thiện bản thân

Khi chúng ta càng hiểu được nhân quả nghiệp báo sâu sắc chừng nào thì chúng ta mới biết sợ và biết kiềm chế trong từng ý nghĩ, từng lời nói, từng việc làm. Nếu không hiểu hết luật Nhân Quả, chúng ta sẽ sống rất hời hợt, buông lung, chỉ thuận theo ý muốn của mình. Khi giận, muốn làm khổ ai thì làm; khi vui, muốn giúp ai thì giúp, tùy hứng, không ổn định. Người khác thấy mình hôm nay tốt, qua hôm sau ba trợn*,* không biết đường đâu mà chơi*.* Còn người biết nhân quả thường giữ chừng mực, kiềm chế, ổn định, đã là người tốt rồi thì tốt mãi. Người khác kết bạn với ta trong thân tình thì có thể yên tâm cả đời. Cái yên tâm cả một đời đó cũng là một hạnh phúc. Khi làm cho người thân xung quanh tin cậy vào nhân cách, vào tâm hồn ta thì phước cũng rất lớn.

Hệ quả hay nhất của người tin hiểu nhân quả là biết kiềm chế bản thân, tránh mọi điều ác và siêng làm việc thiện. Chưa biết cái phúc về sau chúng ta sẽ được hưởng muôn nghìn lần như thế nào, nhưng trước mắt ta đã là một người chân chính xứng đáng vì biết kiềm chế chính mình. Người nào biết kiềm chế, đó là người tốt. Nói cách khác, muốn làm người tốt thì trước hết chúng ta biết kiềm chế bản thân mình. Còn những ai muốn cái gì là phải đoạt cho được cái đó thì người này không phải người tốt, không phải là người có đạo đức. Vì vậy để đánh giá một người có đạo đức hay không, trước hết ta xem người đó có biết kiềm chế hay không. Có những thứ ta rất thích, rất muốn nhưng không tốt đối với người khác, khiến ta phải suy đi nghĩ lại ba lần, năm lần, mười lần nên làm hay không, và cuối cùng quyết định không làm. Biết kiềm chế như thế là dấu hiệu khởi đầu của người có đạo đức.

Chính luật Nhân Quả làm cho chúng ta biết kiềm chế vì có trí tuệ biết nhân, biết quả. Tuy có những điều mình ưa thích nhưng chúng ta luôn suy luận thử xem quả báo này sẽ đưa ta đến đâu rồi mới làm, chứ không phải thích cái gì là làm liền cái đó. Đây là hệ quả đẹp của người tin nhân quả. Nếu xã hội có thật nhiều người tin hiểu luật Nhân Quả thì điều chắc chắn là xã hội này sẽ rất tốt đẹp, rất thịnh vượng vì không ai nỡ làm khổ ai. Tất cả mọi người đều mong muốn giúp cho người khác được yên vui hạnh phúc. Khi luật Nhân Quả cho chúng ta sự kiềm chế ở từng con người và nếu cả xã hội đều như vậy thì ta hãy tin chắc rằng xã hội này chỉ toàn điều tốt đẹp. Thiên đường không ở đâu xa mà chính là ở nơi có những con người tin hiểu nhân quả, biết sống đẹp, sống tử tế với nhau.

Tranh mực đen trắng: vầng trăng tròn trên núi xa, vài cánh chim bay.

Lẽ sống của một người đệ tử Phật đều dựa trên trí tuệ và hiểu biết về nhân quả. Tất cả chúng ta, không bao giờ chạy lạc ra khỏi điều này cả. Tức là mỗi một lời nói, mỗi một tính toán, chương trình kế hoạch của ta, không bao giờ rời khỏi cái suy tư về Luật Nhân Quả. Hễ làm gì, nói gì đều cân nhắc coi cái thiện cái ác của nó như thế nào.

Nếu thấy rằng mình nói câu này nó thành tội thì ngưng ngay, sám hối liền. Còn nếu thấy mình nói hay làm – điều đó tạo thành phúc thì hãy làm ngay. Đó là người đệ tử Phật quanh năm suốt tháng, từng giờ từng phút chỉ cân nhắc điều đó để sống, để làm, để nói, để suy nghĩ. Nên ai hiểu Luật Nhân Quả tới mức độ tinh tế, sâu xa thì cuộc sống của họ càng lúc càng chuẩn xác, đạo đức, mẫu mực, cẩn thận, chi li, tế nhị (trở thành một người giao tiếp giỏi, mặc dù họ không cố ý).

Khi một người hiểu được nhân quả sâu xa rồi thì cuộc sống của người đó không thể ác - đó là cái thứ nhất; tiến xa hơn là tràn đầy điều thiện; tiến xa hơn là trở thành tử tế từng chút; tiến xa hơn là trở thành tinh tế như là một sự lịch sự, nhưng là lịch sự của bổn phận và cái lịch sự đó là thật lòng, xuất phát từ lòng từ bi, yêu thương như lời Phật dạy. Do đó, hiểu nhân quả sâu xa rồi thì ta thành tựu từ từ nhân cách của mình và trở thành người hoàn hảo dần.

Một người đệ tử Phật trong tâm phải có hai tính chất: Thứ nhất là xem cuộc đời này là giả tạm, chóng qua, không quan trọng; thứ hai là lòng thương yêu chúng sinh tràn đầy. Đủ cả hai tính chất thì đó là người đệ tử Phật chân chính.

Chúng ta hãy nhìn lại tâm mình xem có cả hai tính chất đó chưa?

Chúng ta có xem cuộc đời này là giả tạm chóng qua hay vẫn thấy cuộc đời này là đáng yêu đáng quý, để rồi tham lam, tranh giành, thù hận? Phải có cái tính chất, cái nhìn, cái trí tuệ của Phật mới thấy cuộc đời này là giả tạm, hư ảo không đáng để mình tham đắm, bám víu. Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai là lòng phải thương yêu con người, thương yêu chúng sinh.

Khi tâm ta có hai điều đó rồi sẽ phát sinh nhiều quả báo: vì biết đời là giả tạm nên ta không chấp cuộc đời, không tham lam, không tranh giành, không thù hận. Vì thương yêu con người nên ta hết lòng tận tụy phụng sự cuộc đời. Đấy cũng là một tính chất rất độc đao của người đệ tử Phật, vừa không tham đắm cuộc đời mà vừa tận tụy phụng sự cho đời.

Thông thường, nếu không phải là đệ tử Phật thì có người xem cuộc đời này là đáng chán, không cần phải bám víu rồi quay lưng thờ ơ thụ động với cuộc đời; hoặc có người rất tận tụy, năng nổ, nhiệt tình nhưng lại xem cuộc đời này quá thật để rồi có những lúc phiền lòng, giận hờn, ganh tỵ...

Ngươi đệ tử Phật tràn đầy lòng thương yêu con người, nguyện đem hết sức mình hy sinh tận tụy, phụng sự cho đời... sau này sẽ thành Thánh, một vị Thánh vừa ung dung tự tại giải thoát, vừa có uy đức thật lớn lao. Nhân quả là như vậy.

Chúng ta nói đến phước tâm linh. Chúng ta thấy, hầu như các chùa đều thờ Đức Phật trong tư thế ngồi thiền nhập định. Ngài ngồi nhập định suốt 49 ngày mới đắc đạo và sau đó đem phương pháp thiền định dạy lại cho đệ tử. Ngày nay, tất cả những ai tu theo Phật đều cũng phải biết ngồi thiền nhập định như thế, giữ tâm vắng lặng như thế, thì mới là đệ tử Phật. Khi tâm đã vắng lặng, bỏ hết mọi tạp niệm, bỏ hết mọi đau khổ, mọi phiền toái, tham lam, thù hận, thì chỉ còn lại một cái tâm rỗng sáng, an vui, hạnh phúc.

Tâm vắng lặng là nội tâm an vui, hạnh phúc và đó là tâm của bậc Thánh. Tâm của người phàm

thì lúc nào cũng suy nghĩ, xao động, bất an, còn tâm Thánh là tâm vào định, hoàn toàn thanh tịnh. Đức Phật đã nhập định như thế, tâm vắng lặng tuyệt đối như thế, và Ngài thành Phật. Thì bây giờ chúng ta cũng bắt chước Ngài, cũng phải biết ngồi thiền để tâm vắng lặng, không tạp niệm, tức là chúng ta đang đi theo con đường của Thánh.

Nhưng việc giữ tâm cực kỳ vắng lặng không phải là chuyện dễ. Để được cái phước giàu sang, nhiều tiền bạc, đi xe hơi, ở nhà lầu,... đã là khó, thì cái phước ngồi thiền để được tâm vắng lặng, yên tĩnh còn khó hơn gấp vạn lần. Chúng ta là đệ tử Phật, đi theo con đường của Phật, thì cần phải biết tạo phước thế nào để vừa có đời sống vật chất thoải mái vừa để tâm lắng sâu trong thiền định. Người định được tâm là thuộc vào hệ của Thánh, lúc chết sẽ được chư Thánh rước ngay sau khi bỏ thân. Tuy nhiên, chúng ta phai làm phúc, phải thương yêu, phải đem lại niềm vui va sự an ổn cho con người... rất nhiều, tâm mình mới bắt đầu vào định được. Khi vào định rồi, ta an hưởng cái phúc của cõi Trời, của cõi Thánh. Đấy là một nhân quả rất lớn lao trong đạo Phật.

Chúng ta đã nói nhân quả làm cho cuộc đời mình được thoải mái hơn, được sung sướng hơn, nhưng những sự thoải mái, sung sướng, giàu sang đó không bao giờ có thể so sánh được với quả phúc của việc thiền định. Tâm an trú trong sự vắng lặng sáng suốt là tâm của Thánh.

Tranh mực đen trắng: chiếc thuyền nhỏ trên mặt nước lặng.

Trong tất cả những điều phúc mà chúng ta làm để giúp người, những cái phúc ấy đôi khi hữu hạn. Ví dụ ta cho người một bao gạo, họ sống được một tuần, một tháng; giúp người học nghề là giúp họ được một đời; giúp người tin hiểu nhân quả là giúp người trong nhiều kiếp. Đời này người ta tin được nhân quả rồi, người ta làm được điều lành rồi, thì hết kiếp này qua những kiếp khác người ta sẽ giữ mãi cái nhân lành đó. Người ta sẽ gặp được Phật Pháp, tin sâu nhân quả, và lại tiếp tục làm điều phúc lành nên phước người ta sẽ không bao giờ hết. Do đó, nếu mình giúp cho ai tin được nhân quả nghiệp báo, giúp cho ai nương tựa được với Tam Bảo, là mình đã cứu người ta vô lượng kiếp. Dĩ nhiên, cái phước báo của mình là vô hạn.

Cho nên, đối với người đệ tử Phật chúng ta thì phúc lớn cũng làm, phúc nhỏ cũng không bỏ sót. Điều quan trọng nhất, lớn lao nhất là không bao giờ chúng ta được phép bỏ qua cơ hội giúp cho người biết được Nhân Quả Nghiệp Báo, quy y Tam bảo...

Không còn mê tín

“Mê tín” tức là muốn có quả báo tốt mà lại tin vào một nguyên nhân sai lầm. Ví dụ thế này: Ai cũng muốn làm người giàu có, nhưng theo luật Nhân Quả, muốn giàu thì ta phải giúp người khác trước, phải làm những việc phước như đắp đường, bố thí cho người nghèo, tạo công ăn việc làm cho người khác, chịu cực như vậy suốt một đời thì sau này sẽ giàu, đó là chính nhân.

Người mê tín thì tin và làm theo những tà kiến như:

Có người tin là ra ngõ gặp đàn bà con gái thì chuyện làm ăn sẽ thất bại. Hoặc tin vào việc đầu năm đến chùa hái lộc thì trong năm sẽ được phát tài lộc. (Trong chữ Nho, “Lộc” và “Tài lộc” khác nhau hẳn. “Tài lộc” viết cách khác, chữ “Lộc” là đọt non mới nhú mầm viết cách khác). Nhưng chúng ta nghe chữ lộc đồng âm nên nghĩ chúng giống nhau cùng là tài lộc, rồi cùng nhau đầu năm rủ nhau vào chùa hái hết lộc cây của chùa, sau này mắc quả báo mai mốt trồng cây không lên.

Tin vào tất cả những nguyên nhân sai lầm trên, ta gọi là mê tín.

Có người tin là nếu năn nỉ Thân Thánh mãi thì sẽ được giàu to. Sự thật không có chuyện đó. Thực ra, Thần Thánh thấy ta có lòng thành, có đạo đức sẽ giúp ta qua một cơn bĩ cực nào đó, nhưng phải tạ lễ bằng cách làm phước lại, chứ không có Thần Thánh nào nghe mình năn nỉ rồi cho mình tất cả mọi điều mơ ước, vì Thần Thánh là công bằng.

Người dân Ấn Độ có niềm tin mù quáng là bỏ xác người chết xuống sông Hằng thì người đó sẽ được giải thoát. Đó cũng là một việc không đúng, vì muốn giải thoát ta phải tu hành rất cao siêu, rất vất vả. Việc ném xác xuống sông Hằng chỉ sinh ra nạn dịch tả, hôi thối, ô nhiễm môi trường mà thôi.

Hoặc là bộ tộc ở Polynesia (một phân vùng của châu Đại Dương, gồm khoảng trên 1.000 đảo ở phía Trung và Nam Thái Bình Dương), tin là ăn óc người chết thì được thông minh, không ngờ lại tạo ra virus gây bệnh bò điên tràn lan khắp thế giới không chữa nổi. Đó cũng là mê tín.

Theo đúng nhân quả, nếu muốn thông minh trí tuệ ta phải khen ngợi, vui mừng khi thấy người thông minh trí tuệ. Thấy người hiếu học ta giúp cho họ có điều kiện học tốt hơn như sách vở, bút viết, tiền học phí... Hoặc nếu có khả năng thì ta mang khả năng của mình giúp đời không tiếc. Có ba nhân đó qua đời sau mình luôn luôn là người tài giỏi trí tuệ, chứ không phải ăn óc heo, óc khỉ mà thông minh được. Ăn óc sẽ khiến ta dễ bệnh dễ chết, sau này điên luôn. Chúng ta nhớ: ai ăn óc người sẽ bị bệnh bò điên, làm bò mà còn bị điên. Người nào ăn óc heo sau này sẽ bị đau đầu. Ăn óc khỉ sau này cũng điên loạn và hư não. Vì vậy, muốn não tốt không phải ăn óc mà phải thương yêu con người, giúp đỡ cho người khác được sáng suốt trí tuệ, đem đạo lý nhân quả truyền bá cho mọi người thì tự nhiên bộ óc mình sẽ mạnh lên. Chung ta tin điều đó là con đường duy nhất chân chính.

Người mê tín thường là người không biết phụng sự, không hiểu nhân quả, làm gì cũng không muốn tốn công, nhưng lại được lợi nhiều thông qua những hành động mang hình thức có vẻ tâm linh. Ngược lại, những người hiểu nhân quả, có chánh kiến thì mới biết dùng cả đời của mình để vất vả, tận tụy, siêng năng phụng sự và yêu thương người khác. Hiểu nhân quả rồi thì ta sẽ cực hơn trước gấp ngàn lần, nhưng ta sẽ làm chủ và đẩy cuộc đời mình đi, không bị nó chi phối nữa.

Nghĩa là hiểu nhân quả, ta sẽ chủ động tìm cơ hội để giúp người chứ không ngồi chờ hay thờ ơ trước những gì đang diễn ra trước mắt. Đấy là một điều rất quan trọng. Giúp người không nhất thiết phải là làm những việc cao siêu, ta hãy bắt đầu ngay từ những việc nhỏ nhất. Vậy thôi, nhưng nó cũng làm cho đạo đức của ta lớn dần. Những điều nho nhỏ ấy cũng là ý nghĩa của phụng sự, cống hiến. Vì vậy nếu chúng ta hiểu được nhân quả, tin nhân quả chúng ta sẽ tránh được mê tín và làm cho cuộc đời mình tốt đẹp hơn.

Biết nhân nào đưa đến quả nào, biết quả nào từ nhân nào sinh ra.

Hiểu nhân hiểu quả, nên người đệ tử Phật suốt một đời muốn làm gì cũng phải cẩn thận, không được tùy tiện, bừa bãi. Ví dụ, có người rủ ta đi buôn gỗ lậu. Người đó nói ngon nói ngọt rằng: “Lúc này cây gỗ hiếm, tôi có đường dây, anh hùn với tôi một ít, chúng ta sẽ đưa gỗ trong rừng ra, mỗi lần chở một ít thôi thì không sợ bị bắt”. Vì là đệ tử Phật nên ta phải cân nhắc nhân quả: Khi buôn cây tức là đã khuyến khích phá rừng, mà phá rừng là tiêu diệt sự sống của trái đất, loài người sẽ chết. Tuy là việc làm nhỏ nhưng cái hại lại rất lớn. Nghĩ như vậy, nên dù công việc làm ăn có vẻ rất thuận lợi, thu nhập cao nhưng ta từ chối ngay,

Tranh mực đen trắng: vài thân tre thẳng với những chiếc lá rủ xuống.

Hay có người rủ: “Tôi với anh buôn gạo lên miền núi vì trên đó người dân rất thiếu gạo. Người đi buôn quá ít nên giá gạo rất cao, nếu có thêm nhiều người cùng đi buôn thì giá thấp xuống sẽ có lợi cho đồng bào”. Nghe có lý có tình, ta nhận lời ngay vì công việc nay vừa giúp ta có lời, vừa giúp tăng thêm nguồn gạo đem lại lợi ích cho người khác.

Người đệ tử Phật phải có bản lĩnh như thế. Khi làm điều gì đều biết cân nhắc tội phúc, nhân quả, chứ không vì cái lợi trước mắt mà làm bừa, làm ẩu. Còn nếu không biết nhân biết quả, ta sẽ dễ rơi vào thủ đoạn, mưu chước, tà kiến, mê tín và sai lầm.

Khi đã hiểu nhân quả rồi, chắc chắn rằng ta sẽ không chấp nhận lời thầy bói: “Anh năm nay sẽ gặp đại nạn nên cần đốt nhiều vàng mã để cúng sao giải hạn”, vì biết rằng muốn giải điều xui, được điều may trong năm thì tốt nhất là nên làm phúc. Nhưng ta sẽ làm gì để có phúc? Ta sẽ trồng cây xanh hoặc đến các làng quê đắp lại những con đường nhiều ổ gà... Có thể năm đó ta sẽ gặp sao xấu nhưng ta đã làm được những việc phúc lành như thế, thì trong suốt một năm ta sẽ không gặp những chuyện xui rủi. Mà nếu muốn may mắn hơn nữa thì ta cứ tích cực làm thêm nhiều điều lợi ích cho mọi người.

Có 2 hạng người khi nói gì ta cũng nghe theo.

Thứ nhất là nếu có người bảo ta đưa tiền, giao nhà là ta đưa ngay, giao ngay. Vì sao vậy? Vì người đó có cái nhân. Đó là trong nhiều đời nhiều kiếp, việc làm và lời nói của họ luôn đi đôi với nhau nên tạo được uy lực trong lời nói. Đến đời này khi họ nói điều gì thì tự nhiên ta tin liền. Ví dụ họ đến gặp ta, nói:

“Tôi có chút việc cần, anh cho mượn mười cây vàng sang năm tôi sẽ gửi lại mười một cây”, ta tin và đưa ngay. Năm sau, họ trả lại đúng mười một cây. Ta có niềm tin bởi chính cái phúc của họ từ nhiều đời là nói đâu làm đó, làm đâu nói đó.

Thứ hai là hạng lừa đảo, nói để lừa gạt nhưng cũng có người tin. Nếu họ bảo đưa tiền ta cũng đưa rồi sau đó họ trốn mất. Ta tin họ mặc dù người này đời trước không có cái nhân là lời nói đi đôi với việc làm. Nhân quả gì vậy? Nhân quả ở đây là tuy người này lừa đảo nhưng vì đời trước họ cũng có gieo trồng phước mà hưởng chưa hết. Sau này họ đổi tánh trở thành kẻ lừa đảo, đồng thời ta cũng có mắc nợ gì với họ nữa nên mới bị lừa. Dĩ nhiên, họ gian dối một thời gian thì phước hết, mà khi phước đã hết thì nói không ai tin nữa.

Còn chúng ta, nếu muốn lời nói của mình có uy đức khiến ai cũng thương cũng mến, rủ đi chùa người ta cũng đi; kêu gọi làm việc từ thiện người ta cũng nhiệt tình đóng góp... thì lời nói và việc làm phải giống nhau, không nói rồi bỏ qua, nói rồi quên, sau này ta sẽ mất phúc về lời nói.

Hoặc nếu ta muốn con cái học hành giỏi giắn thông minh, thành đạt thì phải gieo nhân gì? Có người không biết gieo nhân cứ ép con mình học: học sáng, học chiều, học thêm cả tối, và nghĩ rằng con mình học càng nhiều thì càng giỏi. Không phải như thế. Học giỏi không phải là do học nhiều, học đến mụ mẫm cả người. Mà người đệ tử Phật hiểu nhân quả phải dạy con mình biết cách gieo nhân.

Gieo nhân như thế nào?

- Phải kính trọng, khen ngợi người tài giỏi mà không ganh tỵ, không đố kỵ. Người nào thấy người khác giỏi mà gièm pha, đời sau sẽ thành người cực kỳ kém dở, học không được, thậm chí còn bị thất học, mù chữ.

- Biết dạy dỗ người khác tận tình. Nếu là thầy cô giáo thì hết lòng dạy bảo học sinh, không phải chỉ dạy một nửa kiến thức, còn một nửa bắt học sinh đến nhà mình học thêm. Hoặc dạy nghề cho ai là tận tình truyền hết kiến thức, hết kinh nghiệm, lúc nào cũng mong cho trò giỏi hơn mình. Người đó đời sau trở thành một người siêu việt, thông minh, có thể trở thành thiên tài.

- Đem khả năng của mình ra giúp đời. Người nào đem khả năng phụng sự cho đất nước quê hương thì đời sau khả năng của người đó phát triển lên gấp mười lần hơn lúc trước. Ngược lại, người có khả năng mà không muốn phụng sự chỉ ham làm giàu cho riêng mình thì sau này khả năng đó sẽ dần dần bị mai một.

Đối với con trẻ, ta phải hướng cho chúng gieo được ba cái nhân đó ngay từ lúc nhỏ. Ta sẽ dạy con thế này: “Với bạn bè con, nếu có người nào học giỏi hơn thì con phải biết khen ngợi; những bạn gặp khó khăn như thiếu sách vở bút viết, con bớt phần quà của mình để dùng tiền đó giúp bạn. Nếu bạn thiếu thốn nhiều hơn nữa, con có thể nói với bố mẹ để tìm cách giúp đỡ cho bạn được tiếp tục học hành. Với thầy cô giáo, con phải biết kính trọng vì kính thầy mới được làm thầy, nếu không, sau này con sẽ thất bại, sẽ không làm được việc gì thành công cả. Với làng xóm, gặp người lớn tuổi con phải biết lễ độ, tôn trọng, bởi vì không tôn trọng người lớn tuổi, lớn lên con sẽ không được ai kính trọng. Điều cuối cùng, con phải hứa với Phật rằng: con nguyện sẽ học thành tài để giúp đời phụng đạo, chứ không phải mong cầu đem tài năng để làm giàu cho riêng mình”. Dạy con như thế thì sau này con trẻ sẽ học từ trung bình đến học khá và sau đó là học giỏi, tức là ta đã gieo đúng nhân đúng quả.

Hoặc là trong việc phát thuốc từ thiện cho người nghèo, tuy có giúp họ khỏe mạnh được lúc đầu nhưng thuốc tây thường mang lại tác dụng phụ như giảm sức để kháng, suy thận, suy gan... Cho nên, người phát thuốc từ thiện sẽ có phúc nhưng cũng có tội, thường đem thuốc bố thí nhưng phước lại không nhiều, sức khỏe không tăng. Đó là do việc làm phúc mà không hiểu nhân quả đến nơi đến chốn.

Hoặc ta giúp người nghèo có tiền, có gạo mà không kèm theo đạo lý thì chỉ làm hại họ chứ không phải giúp. Người ta không biết thương yêu nhau, không biết tu cũng không biết làm phúc mà cứ ỷ lại, cứ mong chờ sự bố thí thì càng lúc họ sẽ càng khốn khổ. Vì thế, khi chúng ta giúp ai về vật chất thì cũng phải nhớ cho họ biết đạo lý. Có như vậy, sự giúp đỡ của ta mới trọn vẹn, đồng thời cũng tạo được cội phúc vững bền cho chính mình.

Tranh mực đen trắng: cành mai với những đóa hoa nhỏ.

Bình an trong cái vui, cái khổ

Từ trong vô lượng kiếp trước, vì ngu si, vô minh, chưa biết đạo nên chúng ta lỡ gây ra rất nhiều tội lỗi, nên kiếp này phải trả quả báo. Trả nghiệp là một điều không hề đơn giản, dễ chịu. Kể cả người biết đạo, khi trả nghiệp cuộc đời vẫn có thể khổ sở, bầm dập. Khi đến với đạo, chúng ta được dạy 2 điều:

  • Thứ nhất là lễ Phật, sám hối và làm nhiêu việc thiện, tích phước để chuyển bớt nghiệp cũ.

  • Thứ hai là tu tập để bình an, tự tại khi quả báo ập đến.

Đạo không bao giờ khuyến khích ta thoát nghiệp quá khứ chỉ bằng lời cầu xin. Vậy nên, ngoài việc khấn cầu, chúng ta phải hành động để giảm bớt cái nghịch cảnh, khổ đau cho bản thân. Tuy nhiên, có một trường hợp ngoại lệ, khi ta rơi vào hoàn cảnh quá bế tắc, lời cầu xin vẫn linh ứng, đó là từ trước, ta đã làm rất nhiều phước hoặc tu hành nhiều kiếp. Còn bình thường, chúng ta cố gắng sống mạnh mẽ, không cầu xin, chỉ cố gắng làm phước thật nhiều mà thôi.

Thông thường, khi bị rơi vào nghịch cảnh như nợ nần, oan ức,... mọi người thường chạy vạy, nhờ vả, cầu xin, cố gắng làm nhiều việc để thoát khỏi sự bế tắc đó. Tuy nhiên, chúng ta không ngờ rằng chính những việc đó lại khiến ta còn khổ hơn nữa. Ngược lại, nếu ta yên lặng đối diện, chấp nhận, ôm lấy nghịch cảnh thì tự dưng lại hết khổ. Đây là một điều rất lạ. Ví dụ, khi đối diện với cái đói, nhiều người đã đi vay mượn. Việc này khiến họ khổ hơn nữa vì vừa rơi vào cảnh đói, vừa rơi vào cảnh nợ nần lê thê. Họ không biết rằng nguyên nhân dẫn đến cái đói của kiếp này đến từ cái nghiệp của kiếp trước. Có thể, một kiếp nào đó ta đã từng làm cho một chúng sinh đói. Dù đó là sự vô tình, không phải ta ác nhưng nó đã tạo thành cái nghiệp, dẫn đến cái đói của kiếp này và giờ ta phải trả. Thế nên, ta đừng cố chạy vạy, cứ kiên nhẫn trả rồi khi cái nghiệp đi qua, hoàn cảnh sẽ thay đổi.

Ta không biết kiếp trước mình đã làm ra những chuyện sai trái gì nên không biết cái nghiệp nào sẽ đến với ta trong kiếp này và đến khi nào. Vậy nên, thay vì ngồi chờ cái nghiệp đến, chúng ta tự động làm nhiều việc thiện, tự động bắt mình đối mặt với những nghịch cảnh trước. Nghĩa là, ta tự nguyện trả nợ cái nghiệp của kiếp trước.

Việc tự nguyện trả nghiệp giúp ta thấy vui vẻ, chủ động trong mọi tình huống nên không bị động, quá buồn khổ như việc bị trả nghiệp. Một khi cái khổ đã đến rồi, ta biết đó là cái nợ mình phải trả thì đừng than vãn, oán trách cuộc đời, hãy tự nguyện chấp nhận cái khổ thì mới nhanh hết khổ.

Ví dụ, khi bị ai mắng thậm tệ, ta có 3 hướng xử lí. Một là tức giận, phẫn nộ rồi tìm cách chửi lại. Cách xử lí này bị Phật chê. Hai là coi lời mắng đó như gió thoảng qua tai, không thèm nghe. Ba là lắng nghe từng chữ, ôm và nhận lấy từng chữ. Là một người tu theo đạo Phật, làm theo những lời Phật dạy thì chúng ta phải đạt được mức độ thứ 3 trong việc xử lí tình huống này.

Khi chúng ta tin, hiểu và ứng dụng được luật Nhân Quả vào trong đời sống thì chúng ta sẽ không né tránh, không chạy trốn mà chấp nhận đương đầu, đối diện, đón lấy nó. Ngược lại, người không tin vào luật Nhân Quả có 2 biểu hiện: Phẫn uất, đau khổ, xoay sở tìm cách chạy trốn và giả nai, giả điếc coi như không. Chỉ có lắng nghe từng lời cho rõ, chấp nhận từng lời mắng chửi mới là một nội tâm mạnh mẽ, đúng bản lĩnh của người đệ tử Phật. Do đó, khi tin, hiểu và ứng dụng được luật Nhân Quả sẽ giúp chúng ta đạt được mức độ mà khi nỗi khổ ập đến, ta lặng lẽ ngồi đối diện, chấp nhận nó.

Nhưng đây mới là thái độ với nỗi khổ, còn với niềm vui thì sao?

Chúng ta hay mừng khi vui hoặc may mắn. Nhưng người đệ tử Phật đừng khờ dại mà mừng. Hãy giữ cho lòng mình sự bình thản dù biết rằng không thể tránh được niềm vui hay sự may mắn tìm đến ta. Hãy lặng lẽ đối diện và diệt cái tâm vui mừng đi, nếu không cái phước sẽ cạn rất nhanh. Chỉ có sự bình thản, không mừng trước cái may mắn thì ta mới giữ được phước cho bền bỉ.

Lại thêm, khi niềm vui hay may mắn đến với mình, ta phải coi đó là trách nhiệm mà cuộc đời giao phó để cố gắng hoàn thành tốt công việc đó. Sống trên đời, vô số niềm vui hay nỗi khổ sẽ tìm đến ta. Chúng ta không thể thay đổi được điều đó nên hãy học cách chấp nhận để bình an ngay cả trong niềm vui hay nỗi khổ.

Khi ta hiểu rằng luật Nhân Quả là công bằng tuyệt đối, tinh vi, nhiều mặt, nhiều góc cạnh, tất cả đều do nhân quả chi phối, quyết định. Kiếp trước ta gieo nhân gì thì kiếp này ta gặt quả đó. Vì vậy, chúng ta không thể chạy trốn khỏi cái khổ để tìm hạnh phúc mà hạnh phúc là ta biết đón nhận, ôm lấy cái khổ trong mọi nghịch cảnh. Nó không phải là một hạnh phúc bình thường mà rất ý vị. Ta thấy, hoa sen mọc lên từ bùn; ngọc quý được bao phủ bởi một lớp đá sần sùi. Cũng vậy, giữa đau khổ trập trùng, giữa vô số điều oan ức, khổ cực, ta biết chấp nhận và ôm lấy nó thì hạnh phúc sẽ bùng vỡ ra ngay trong những nghịch cảnh đó.

Khi chúng ta biết mọi việc đến với mình đều là do nhân quả từ kiếp trước. Bất kể là niềm vui hay nỗi buồn, ta không tìm cách từ chối hay né tránh, mà chỉ chấp nhận, đối diện và ôm lấy nó, lúc đó ta sẽ bình an và tìm được niềm hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh.

Gây tạo được nhiều phước lành

Trong đạo Phật, người đệ tử Phật phải hướng đến những phước lành sau:

Phước hữu vi. Đó là phước về đời sống vật chất, về sức khỏe thân thể, về năng lực tinh thần, sự khôn ngoan, sự thông minh. Trong đời sống, người tu phải làm thế nào để có được phước hữu vi, nghĩa là có cuộc sống thoải mái về vật chất, không thể tu lâu mà vẫn bị nghèo khổ. Người tu đúng con đường của đạo Phật, thì tu càng lâu sẽ dần dần thoát khỏi cảnh nghèo, có cuộc sống khá hơn, ngày càng giàu có hơn.

Phước về tâm linh. Tức là tu sửa tâm trở nên thuần thiện để từng bước chứng đạt những quả vị của bậc Thánh. Trong đạo Phật có bốn quả vị Thánh mà người tu phải đạt được là Sơ quả Tu Đà Hoàn, Nhị quả Tư Đà Hàm, Tam quả A Na Hàm và Tứ quả A La Hán.

Hóa độ chúng sinh. Người muốn đạt được phước lành này là phải tu như thế nào, để khi nói về Phật Pháp người ta sẽ nghe theo, rủ đi chùa người ta cũng đi theo, nghĩa là phải đưa được nhiều người về với Phật Pháp.

Cùng một lúc, người Phật tử chúng ta phải hướng đến tất cả những phước lành trên: Sau một thời gian tu hành đời sống vật chất phải khá lên, cơ thể khỏe mạnh, trí óc minh mẫn; dần dần tu chứng những quả vị Thánh; tu càng lâu càng đưa được nhiều người về với Phật Pháp.

Nói chung, người Phật tử phải đạt được phước hữu lậu để thoát cảnh khốn cùng, không thể chấp nhận việc càng tu mà càng nghèo, cơ thể bạc nhược, tinh thần tăm tối. Nếu trước kia thấy mình nghèo người ta coi thường, đến bây giờ họ thấy mình biết đi chùa, biết làm phúc, thấy cuộc đời mình khá lên thì người ta tin và mình tu như vậy là đúng hướng. Nhưng nếu muốn có một đời sống vật chất thoải mái, càng tu càng khá thì phải biết gieo nhân. Ví dụ, có câu hỏi “tôi muốn ăn trái vải thì phải làm sao?”. Câu trả lời gần nhất là “ra vườn hái”. Câu trả lời đúng và chính xác hơn là “muốn ăn vải thì phải trồng vải”.

Và theo nhân quả sâu xa thì đạo Phật nhắm đến việc trồng cây, tức là gieo nhân xa chứ không phải gieo nhân gần. Nếu nói “muốn ăn vải ra vườn mà hái” thì nghe có vẻ gần và dễ, nhưng còn phải xem vườn đó là của ai, của mình hay của người khác. Hay nói muốn có tiền thì cứ mở tủ mà lấy”, nhưng tủ của ai, của mình hay của người khác. Hoặc nói “muốn làm giàu thì phải buôn bán”... Những câu đó không sai nhưng không thấu đáo, không đến nơi đến chốn. Thấu đáo nhất vẫn là muốn có vải ăn thì phải trồng cây trên mảnh đất của mình, muốn giàu thì phải làm phúc bởi chính công sức của mình.

Tranh mực đen trắng: những hòn đá và các vòng sóng trên cát.

Người nào hiện nay khá giả thì biết là cây vải đã được trồng rất lâu, có thể từ đời trước nên đời này đơm hoa kết trái. Người này làm gì cũng thành công, buôn bán gì cũng phát đạt. Người đó phải tiếp tục làm gì nữa? Phải tiếp tục giữ gìn cội phúc đó rồi lại gieo thêm cho đời sau. Điều này rất dễ vì đã có nền tảng căn bản, giống như khu vườn đã có cây có trái, bây giờ vừa thu hoạch vừa gieo thêm và giữ gìn những cây đã trồng.

Nhưng phải giữ gìn cây như thế nào? Đời xưa đã biết thương người, giúp người nên đời này mới được giàu có, thì bây giờ phải tiếp tục thương người, giúp người nhiều hơn nữa. Có như vậy cội phúc mới được giữ gìn mãi mãi, càng ngày càng lớn lên, đời sau càng lúc càng phát triển và phúc đức để lại cho con cháu đời đời thành công.

Như ta trồng được cây vải sum suê rồi vừa ăn, vừa chặt, vừa đốn là ta đang giàu sang nhưng chỉ biết hưởng một mình không chia sẻ cho ai, và kiêu ngạo khinh người. Có những lúc ngồi xe hơi sang trọng, thấy người hàng xóm đi bộ bên đường mà ta ngoảnh mặt không chào. Thậm chí, có khi lái xe làm văng nước lên người họ mà cũng không thèm nói một lời xin lỗi vì ta coi khinh kẻ nghèo hơn mình. Làm như thế tức là ta đã chặt mất cội phúc của mình, cây vải của ta đang vừa bi ăn vừa bị phá.

Còn ta biết giữ gìn cội phúc là như thế này: Ta đang lái xe, gặp người hàng xóm nghèo với gánh hàng nặng trên vai. Nếu đang vội thì ta giơ tay chào, còn không thì ta sẽ dừng xe lại hỏi han một đôi câu, trân trọng tình làng nghĩa xóm rồi sau đó mới lái xe đi. Tức là dù ta giàu có nhưng không khinh người, thì đó là ta vừa ăn mà vừa vun bón cho gốc vải, cây vải sẽ không chết mà cứ ngày một lớn thêm lên, đó là biết vun trồng cội phúc. Ta càng có phước, có địa vị, có tiền bạc nhiều mà ta càng thương yêu những người nghèo khổ hơn mình thì cội phúc không bao giờ mất. Cứ mỗi lần lỡ khởi tầm khinh người là mỗi lần ta chặt một nhát dao lên cây vải của mình.

Những ai cảm thấy đời sống của mình chật vật thì phải biết “trồng vải”. Sẽ có người nói rằng mình không có tiền, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, làm sao có thể làm phúc giúp người? Chính những người chờ có tiền để làm phúc thì không bao giờ có tiền. Người nghèo mà muốn làm phúc là bắt buộc phải làm phúc trong cảnh nghèo, cảnh khó. Vì đã nghèo, đã khó rồi mà không chịu vất vả để làm phúc thì sẽ không bao giờ có phúc. Đây là chìa khóa để mở ra con đường thoát khỏi cảnh khổ, không có con đường nào khác. Đừng bao giờ nói rằng: “Tôi nghèo quá nên phải lo bươn chải làm ăn, tiền đâu ra mà đi làm phúc”. Không thể đợi giàu mới làm phúc, chính khi đang vất vả mà càng thiết tha làm phúc thì lúc đó mới được Phật gia hộ.

Ưu điểm của người giàu là dễ có tiền để làm phúc. Ví dụ, nhà chùa tổ chức chuyến đi thăm tặng quà đồng bào miền núi ở vùng sâu vùng xa nên cần quyên góp thêm một vài tấn gạo. Người nhà giàu sẽ sẵn sàng gửi ngay cho chùa vài tấn gạo mà không bận tâm. Họ làm phúc rất dễ dàng bởi cái tâm của họ không phải cố gắng, không phải phấn đấu nhiều, và đó cũng chính là nhược điểm của người giàu.

Đối với những ai nghèo khó phải “buôn gánh bán bưng để kiếm sống từng ngày, nhưng vì muốn đóng góp thì họ cũng phải cân nhắc: “Buôn bán cả tuần mới để dành được năm trăm nghìn đồng, định mua sắm cái gì đó cho gia đình. Nghe nhà chùa có nhu cầu tặng quà từ thiện, không biết là nên dùng số tiền này mua sắm cho gia đình hay trích ra hai trăm nghìn để làm phúc”. Chỉ có hai trăm nghìn thôi mà họ phải mất ăn mất ngủ, suy nghĩ mấy đêm liền, và cuối cùng quyết định góp hai trăm nghìn phụ mua quà cho đồng bào miền núi.

Đây thực sự không phải là điều dễ làm đối với người nghèo khó. Tuy vật chất đóng góp không nhiều nhưng cái tâm thì rất lớn, rất cố gắng. Điều rất lạ là quả báo đến cho cả người giàu lẫn người nghèo đều bằng nhau: người cho vài tấn gạo trị giá mười mấy triệu đồng với người chỉ cho hai trăm nghìn đồng. Nghĩa là theo quả báo, người nhà giàu tự nhiên họ sẽ được vài chục tấn gạo, người nhà nghèo cũng được y như thế. Nhược điểm của người nghèo là tiền ít, nhưng lại có ưu điểm là tấm lòng nhiều.

Chúng ta đừng nghĩ rằng nghèo thì sẽ khó làm phúc. Chính tấm lòng, chính sự cố gắng từng chút, từng chút một đã là điều phúc. Quả báo đến sẽ rất lớn vì cái tâm rộng lớn. Chỉ sợ mình đã nghèo, đã ít tiền để làm phúc mà cái tâm lại quá nhỏ thì đúng là sẽ không bao giờ có phúc. Nên vì vậy, người nghèo dù trong cảnh chật vật khó khăn thì càng phải gắng làm phúc nhiều hơn nữa, chính nhờ có nỗ lực cố gắng hết sức mình, chắc chắn sẽ luôn nhận được sự gia hộ của chư Phật.

Khi phước có rồi thì ta sẽ được gì ở mai sau

Thứ nhất là phước tạo ra cơ hội may mắn. Người hay gặp may mắn là do có phước, không phải chuyện ngẫu nhiên. Như mình đang thất nghiệp, bỗng nhiên có người quen ở xa tới, hỏi: “Sao anh không đi làm, anh về làm với tôi, tôi bỏ vốn cho anh xây dựng cơ sở này, anh lo kiếm thợ thôi, khi nào anh vững vàng thì tôi rút lui, tôi có công việc khác của tôi”. Tự nhiên có người đến giúp đỡ mình như vậy là phải hiểu do phước chứ không phải do mình ăn hay nói giỏi.

Hoặc mình cũng đang thất nghiệp, vô tình đi chùa gặp người đang cần một người như mình về làm cho họ, chính cái vô tình bất ngờ ngẫu nhiên đó là do phước điều khiển chi phối. Nghĩa là có nhiều cái may xảy ra trong cuộc đời minh là do phước, phước tạo ra điều may mắn, chứ điều may không phải là ngẫu nhiên mà đến, nhớ như vậy.

Phước còn tạo ra sự khôn ngoan. Trên đời có ngươi khôn, người ngu. Khi gặp một công việc nào đó, ta giỏi sắp xếp tính toán, chăm chút kỹ lưỡng và ta thành công.

Tính kỹ lưỡng đó có được chính là do phước.

Người hời hợt không biết tính toán, không cẩn thận chu đáo là người ít phước. Phước tạo ra sự khôn ngoan và sự khôn ngoan tạo ra sự kỹ lưỡng, nhìn xa trông rộng.

Người thông minh học giỏi cũng là do có phước. Phước tạo ra nghị lực. Ví dụ, ta mở một trang trại trồng các loại cây đặc biệt, có người nói: “Mày tham quá, sống vậy đủ ăn rồi còn bày đặt đầu tư thêm”. Nghe người ta nói khích một câu, ta liền tức giận không làm nữa, tức là mình ít phước. Còn người mặc dù bị nói xấu, bị trở ngại, gặp bao nhiêu khó khăn vẫn kiên trì vượt qua để thành công, luôn luôn phải biết rằng đó là người có phước. Người kiên tâm trì chí khi gặp khó khăn không bỏ cuộc, gặp sự chống đối thị phi không chán nản, lúc nào cũng chuyên cần phấn đấu bước tới, thì phải biết người đó rất có phước. Trái lại, người mới bị chê vài câu đã vội bỏ cuộc là người ít phước.