Vô ngã là mục tiêu tối thượng của sự tu hành
Trích từ Nói với chính mìnhKhoảng 6 phút đọc

“Con ngưỡng vọng về cội cây thiêng
Vâng Sao Mai mạc giữa trời nghiêng
Phật thành Chánh Giác trùm pháp giới
Vô ngã nên không còn cõi riêng...”
Vô ngã, hai tiếng tưởng chừng như đơn giản nhưng chứa đựng trong đó tất cả sự tuyệt đối, sự linh thiêng huyền nhiệm, và cả pháp giới bao la. Vô ngã cũng là mục đích tối thượng, là đỉnh cao của sự tu hành trong đạo Phật. Đây là mục tiêu mà chưa một giáo chủ nào tuyên thuyết được, trừ Đức Phật; chưa một tôn giáo nào xác quyết được, trừ đạo Phật.
Thuở xưa, khi Sa môn Gotama mới xuất gia tầm sư học đạo, Ngài tìm đến hai vị đạo sư nổi tiếng thời đó là Alara Kalama và Uddaka Rămaputta (Uất-đầu-lâm-phất). Hai vị này đều chứng được thiền định và thần thông rất cao siêu. Đạo sư Alara Kalama chứng được Vô sở hữu xứ định, có khả năng lướt đi trên mặt nước, còn Uddaka Rămaputta chứng được Phi tưởng phi phi tưởng xứ định, có thể cất mình bay liệng giữa hư không như chim trời tự tại.
Ban đầu, Ngài đến tham học với đạo sư Alara Kalama. Điều kì lạ là chỉ chưa đầy một tháng, Sa môn Gotama đã chứng đạt trạng thái Vô sở hữu xứ định, trong khi rất nhiều đạo sĩ tu tập suốt mười năm vẫn chưa thể chứng đạt. Và đạo sư Kalama đã mời Ngài ở lại cùng cai quản hội chúng. Khi đó, Ngài liền đặt câu hỏi: “Thưa tôn sư Alara Kalama, trạng thái Vô sở hữu xứ định này còn bản ngã hay không còn bản ngã, vì nếu còn bản ngã thì chưa giải thoát, mà nếu không còn bản ngã thì ai biết mình đã chứng đạt?” Vị thầy im lặng không thể trả lời. Sa môn Gotama đành xin phép ra đi.
Ngài tiếp tục tìm đến tham học với đạo sư Uddaka Rămaputta, và chỉ trong vài ngày đã chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ định, có thể cất mình bay được giữa hư không. Đạo sư Uddaka Rămaputta tán thán Sa môn Gotama là bậc đại căn cơ, vì chính ông cũng phải tu 40 năm mới chứng đạt, và đề nghị nhường hẳn hội chúng cho Ngài cai quản. Khi hai người cùng đứng trên hư không, Ngài đã hỏi: “Thưa tôn sư, trạng thái phi tưởng phi phi tưởng xứ định này còn bản ngã hay không còn bản ngã. Nếu còn bản ngã thì chưa giải thoát, mà nếu hết bản ngã thì ai biết mình chứng đạt?” - “Câu hỏi này ta không trả lời được. Con phải tự đi tìm câu trả lời cho chính mình và cho chúng sinh”.
Như vậy, điểm mấu chốt là còn bản ngã hay không còn bản ngã, nếu còn bản ngã thì chưa giải thoát. Và sau sáu năm khổ hạnh vất vả cùng cực nơi rừng sâu, núi thẳm vẫn không tìm được lời giải đáp, Ngài đã từ bỏ con đường khổ hạnh để thực hành thiền định sâu xa.
Rồi sau 49 ngày đêm nhập định dưới cội bồ đề, Ngài đã đắc thành chánh quả giải thoát viên mãn, trở thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, thành toàn thể vũ trụ, chứng đạt được vô ngã hoàn toàn – cũng chính là đỉnh cao của sự tu tập và chứng ngộ tâm linh trong đạo Phật. Vì vậy, đỉnh cao của sự tu hành là Vô Ngã.

Sau thời Phật tại thế, mức độ chứng ngộ tâm linh của các bậc thầy cứ giảm dần, giảm dần theo thời gian. Và càng cách xa Phật thì người ta không đạt được vô ngã như Phật và các vị A-la-hán. Chính vì không chứng ngộ bằng Phật, cũng không có Phật để hướng dẫn, kinh điển để lại thì khó hiểu nên nhiều vị đã phát triển một số lý thuyết bổ sung vào giáo lý đạo Phật, rồi lập thành những tông phái mới nhưng quên mục tiêu vô ngã ban đầu.
Đây cũng chính là một trở ngại cho người học Phật bởi tinh thần tông phái khiến cho Phật giáo thiếu đi sự hòa hợp. Đạo Phật muốn đoàn kết, muốn có sức mạnh thì không phải là trộn tất cả các tông phái lại với nhau, mà điều quan trọng là tìm sự chung đồng hợp lý tạo nên mẫu số chung cho các tông phái Phật giáo hòa hợp, đoàn kết với nhau. Cái chung đồng đó là Mục tiêu Vô ngã để các tông phái cùng hướng về. Và như vậy, dù pháp môn hay tông phái nào rồi cũng sẽ gặp nhau, dung hòa với nhau và đạo Phật sẽ phát triển.
Ngày nay, khi cách Phật hơn 2500 năm thì lại càng hiếm những bậc có tâm chứng cao siêu. Rất nhiều giảng sư nói năng lưu loát như mây bay nước chảy mà ta gọi là thuyết pháp “biện tài vô ngại”, nhưng nội tâm chưa hề có sở đắc tâm linh. Đây mới là điều đáng lo cho Phật giáo, bởi một người giảng hay, lôi cuốn được nhiều người theo, mà trong tâm không có chứng ngộ tâm linh thì từ từ sẽ dẫn mọi người rời xa khỏi mục tiêu vô ngã. Cứ như vậy, càng về sau người ta càng xa dần, xa dần vô ngã của đạo Phật. Mà như vậy, càng tu bản ngã con người càng lớn lên vì những mục tiêu rất kỳ lạ. Người ta sẽ tranh giành từng chút quyền lợi, hơn thua từng lời ăn tiếng nói. Hễ người này nói một câu xúc xiểm thì người kia phải tìm câu khác dữ dằn hơn đáp lại, người này thấy mình được mọi người thương hơn thì mừng thầm trong bụng, người kia thấy mình chưa được thương thì lòng ấm ức... Cứ hơn thua những chuyện lặt vặt vô nghĩa để rồi người với người chia rẽ, chùa với chùa chia rẽ, tông phái này với tông phái kia bị chia rẽ dù trong cùng một đạo Phật, cũng vì chúng ta quên mục tiêu vô ngã. Thế nên chùa không còn là bến đỗ bình yên, không còn là phước điền cho mọi người gieo trồng căn lành giải thoát.
Chỉ khi người Phật tử được học về vô ngã, thì càng tu bản ngã càng nhẹ xuống và tình yêu thương sẽ tỏa ra. Mọi người gặp nhau trong ánh mắt trìu mến, lời nói ngọt ngào, ân cần tử tế, biết nhường nhịn, cảm thông giúp đỡ nhau mà không chấp công... và ngôi chùa bỗng trở thành tổ ấm. Vì thế, dù chưa chứng đạo, nhưng nếu tâm ta có mục tiêu vô ngã thì cõi trần gian này cũng là cõi thiên đường hạnh phúc. Nếu các tông phái Phật giáo cùng hướng về mục tiêu vô ngã thì đạo Phật sẽ đoàn kết.

Và đây là điều ta yêu cầu các bậc tông sư của thời đại, khi hướng dẫn đồ chúng tu theo pháp môn của mình phải xác quyết về mục tiêu vô ngã trên hai phương diện: Thứ nhất là cách nhiếp tâm trong tâm linh phải hướng về vô ngã; thứ hai là trong đạo hạnh, cư xử, oai nghi, tế hạnh tỏa ra bên ngoài phải biểu lộ được đạo đức vô ngã vị tha.